Lời Phật dạy

"Không làm các việc ác, Siêng làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy!" (Kinh Pháp Cú)
Showing posts with label truyenngan. Show all posts
Showing posts with label truyenngan. Show all posts

Tuesday, July 7, 2026

Năm Tháng Sẽ Qua

Năm Tháng Sẽ Qua

Cây bông sứ trước nhà vẫn trổ bông như thường khi. Có lẽ đó là một góc đẹp nhất của căn hộ chúng tôi mới đến trọ. Nhà gỗ đơn sơ nhưng được cái rộng rãi, thoáng mát nhờ hệ thống cửa ra vào và cửa hậu thông nhau. Căn phòng của chúng tôi nằm khuất bên trong nên cũng không cần phải trang trí cho đẹp, miễn là có chỗ ấm cúng cho các con tôi có được một nơi ăn chốn ở đàng hoàng, để ngày hai buổi đến trường, không phải gián đoạn việc học là được rồi. Tôi nào dám mơ ước gì hơn! Hoàn cảnh nghiệt ngã đã không cho phép chúng tôi giữ được căn nhà, tổ ấm duy nhất mà Trời, Phật đã ban cho kể từ khi chúng tôi ra ở riêng đến bây giờ. Nơi căn nhà đó không biết bao nhiêu là kỹ niệm vui, buồn của kiếp người đã diễn ra trong suốt hai mươi năm trời khi chúng tôi mới có đứa con đầu lòng xinh đẹp, ngoan ngoãn, thông minh…

Buổi sáng, Bố đi dạy, mẹ con ở nhà hủ hỉ bên nhau. Con quấn qúit bên mẹ như bóng với hình. Những ngày mưa gió tầm tả, nhà ngập nước, mẹ bồng con đứng ở góc nhà chờ tạnh mưa Bố mới về tát nước. Mẹ sợ ma bồng con đứng hoài ở mái hiên. Căn nhà hãy còn âm u lắm. Cái gác bỏ không bỡi cây đã mục nát, không ai dám lên sợ sập. Những cây kèo, cột là tổ mối, cứ chiều hôm là từng đám mối mới nở túa ra bu quanh những ngọn đèn, hay nơi nào có ánh sáng. Mẹ phải tắt đèn để cho chúng bay đi nơi khác vì sợ chúng rơi vào nơi con đang ngủ. Những ngày mới ra riêng thật đáng nhớ làm sao! Bỡi đó là những ngày đầu mới giải phóng miền Nam. Buổi giao thời đầy nhiễu nhương như bất kỳ giai đoạn giao thời nào của lịch sử, của xã hội. Giai cấp củ nầy bị đào thải, giai cấp mới kia lại mọc lên thế vào. Và rồi có nơi củ, mới lẫn lộn không biết đâu mà lường. Con người cũng nương vào đó mà vùi dập nhau để trả mối tư thù, ganh ghét, tị hiềm từ lâu…người củ thì hoặc bỏ đi, hoặc lui vào bóng tối bỡi không được sử dụng. Cũng có người cộng tác trong các lãnh vực chuyên môn. Họ chỉ biết phụng sự quốc gia, dân tộc không để ý gì đến lãnh vực chính trị đầy thủ đoạn, đầy phức tạp và nguy hiểm luôn rình rập kia. Tệ nhất là những hạng người thừa cơ “ mượn gió bẻ măng” để được thế “ ngư ông đắc lợi”. Thế là nào phát động phong trào đấu tố, nào tung chiến dịch bêu xấu bằng cách rỉ tai, nào phát khỡi thư nặc danh..v..v..để hai những đối tượng nào mà họ không ưa hoặc nghĩ rằng kẽ đó đã biết quá nhiều về quá khứ của mình…Nói chung giai đoạn giao thời là môi trường thích hợp để phát sinh và tăng trưởng những thói xấu của thời đại, của con người vốn là một sinh vật yếu đuối nhất thế gian. Cho nên, cái gia đình nhỏ bé của chúng tôi cũng bị cuốn hút vào cơn lốc vô tình đến tàn nhẫn đó. Lẽ ra giờ nầy chúng tôi hãy còn sống chung với Bố Mẹ chồng nhưng vì gia đình quá khó khăn, Bố Mẹ cũng muốn cho chúng tôi tự lập nên khi con đầu lòng của chúng tôi được một tháng rưỡi, chúng tôi buộc phải ra riêng để tự lo cho mái ấm gia đình của mình. Giai đoạn đầu chúng tôi đến tá túc bên cạnh một ông chú mới từ Long Khánh di tản về sau khi Sài Gòn giải phóng. Đó là một miếng đất nhỏ bên cạnh bệnh viện chợ Rẫy. Miếng đất nằm phía sau nhà xác của bệnh viện, vì ông chú của chồng tôi là công nhân thâm niên của bệnh viện nên được các bác sĩ thương và cho sử dụng miếng đất ấy. Gia đình ông khá giả nên không ở mà cho lại người em, và gia đình tôi được chú Út chia cho một phần nhỏ vừa đủ kê cái giường và chiếc nôi nhỏ bé, xinh xắn của con trai tôi. Những ngày đầu mới ra riêng thật là kinh khủng! Cả hai vợ chồng có chút trình độ nhưng đều thất nghiệp, lại còn thêm đứa con sơ sinh chưa đầy hai tháng tuổi. Gia sản ra riêng chỉ có một cái nồi, một cái chảo, và…vài cái chén sứt mẻ mà thôi- nhưng tôi không buồn bỡi chúng tôi hãy còn có đôi bàn tay, dù chỉ là đôi bàn tay trắng ! Cái đáng sợ nhất là tình thế không ổn định của Sài Gòn vào những ngày đầu mới giải phóng. Lúc ấy, cũng như tất cả mọi người, chúng tôi cũng tự mưu sinh bằng việc buôn bán lặt vặt cho qua ngày để chờ tình thế ổn định hơn, để may ra…nhà nước bố trí cho một việc làm thích hợp với đồng lương đủ sống. Thế là mãn nguyện rồi, tôi không còn ao ước gì hơn. Trong đầu óc bình thường, đơn giản của tôi chỉ mong có thế. Ông xã tôi thì khác, anh còn rất nhiều hoài bảo, hi vọng và nhiệt huyết của người võ sĩ vừa bước ra đấu trường. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bỡi anh vừa bước ra khỏi ngưỡng cửa gia đình và nhà trường. Tất cả tích lũy của tuổi thanh niên từ kiến thức cho đến sức khoẻ đều hãy còn đầy ắp, chưa có dịp đem ra thi thố trong trường đời bao giờ, cho nên anh hãy còn náo nức với rất nhiều dự tính thế nầy, thế nọ… Để được nhà nước mới xử dụng, anh cũng như bao nhiêu người khác của chế độ củ xông xáo ra làm việc xã hội, nào tập trung học tập cải tạo, nào dân phòng, nào thông tin văn hóa… thậm chí, anh còn tham gia cả ủy ban cứu trợ, công tác từ thiện cứu đói trong tổ, dù gia cảnh mình cũng chẳng khác họ chút nào. Nơi dừng chân tạm của anh là “ Hội trí thức yêu nước” để bắt đầu cho chương trình “ chiến đấu với giặc ngu dốt” của mình. Cũng xuất thân là nhà giáo, anh đã từng cầm phấn ngay từ những năm đầu trên ngưỡng cửa đại học. Vừa làm, vừa học như một số sinh viên nghèo khác nhưng ý chí tự lập của anh rất mạnh cũng như tinh thần phản chiến của anh lúc bấy giờ. Phong trào sinh viên biểu tình chống đối các thế lực muốn đặt ách thống trị lên dân tộc, đất nước của mình bùng nổ trầm trọng ngày một căng thẳng khiến anh cảm thấy không thể nào đứng yên được nữa. Rồi lệnh đôn quân ban hành, sắc lệnh tổng động viên của Tổng Thống Thiệu đã chấm dứt những ngày vừa làm thầy vừa làm trò của anh. Khóa sĩ quan Thủ Đức kết thúc một cách tốt đẹp, một mình anh với ba giấy khen hoàn thành xuất sắc công tác, thế nhưng ngày ra trường anh chỉ được gắn lon thượng sĩ, bỡi vì “ cái tinh thần phản chiến” của anh. Bạn bè ai cũng kinh ngạc không hiểu vì sao? Riêng anh và gia đình thì đều biết quá rõ lý do: anh quá nhiệt tình trong công tác xã hội khi đi chiến dịch nông thôn đến độ bị nghi là “khuynh tả”, anh cũng không buồn cải chính, bỡi anh không hề yêu thích sự nghiệp nhà binh. “Nhất tướng danh thành vạn cốt khô” ông bà ta đã nhận định như thế, điều đó làm anh cãm thấy mỗi một thứ bậc trong nhà binh đều phải trả bằng một cái giá qúa đắt. Với anh, chỉ có sự nghiệp giáo dục, hoàn mỹ hóa xã hội theo tinh thần nhà Phật là đáng để cho anh hi sinh cả một đời, bởi đó là lý tưởng tuyệt đối nằm trong cái tương đối của kiếp người. Mà cũng chính vì cái tinh thần từ bi đó mà anh thường xuyên gặp sóng gió, thất bại, nguy hiểm… thậm chí còn có thể nguy đến cả tính mạng nếu không nhờ tha lực chở che, bảo hộ. Những sự thị hiện đó tưởng chừng như tình cờ, nhưng mỗi lần thoát ra anh đều cảm thấy rất rõ điều đó. Tôi đã đi bên cạnh anh gần hai phần ba quãng đường đời, cho nên đã nhiều lần tôi chứng kiến cách giải quyết vấn đề của anh đầy nhân tính khiến cho những kẻ không hiểu cứ tưởng rằng anh yếu đuối, không cương quyết mà lấn lướt mãi…

_ Em ơi- mở cửa

Tiếng gọi kéo tôi về thực tại- một thực tại đáng buồn đến độ tôi không muốn nghĩ đến nữa, nhưng nó vẫn cứ hiện diện và làm cho tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi mở cửa, nhìn khuôn mặt, tôi biết không có gì thay đổi tốt hơn. Lẳng lặng quay vào, tôi không lên tiếng nhưng cả anh và tôi đều hiểu rằng bất cứ lời lẽ nào cũng không khoả lấp được sự lo lắng và đau khổ trong lúc nầy. Các con tôi đã lớn, chúng cũng hiểu điều đó nên chỉ biết chia xẽ với bố mẹ bằng cách lặng yên lấy vở ra học bài, không đùa giỡn như mọi khi nữa. Công việc làm ăn không trôi chãy, người thân không dám hỏi han vì sợ nhờ vả và xấu lây, sợ hỏi thăm sẽ phải giúp đở hoặc bị ta xin tá túc cho qua cơn hoạn nạn thì khó mà từ chối hoặc từ chối thẳng thì lộ chân tướng giả dối lâu nay. Còn bạn bè thì xa lánh. Những người bạn thân mà ngày thường ta tưởng chừng như không gì có thể kéo họ xa ta, thế mà chỉ trong vài ngày- khi biết rõ ta gặp hoàn cảnh không may có thể sẽ phải nhờ vả họ thì...thật khó mà gặp được họ. Bài học đó rất quen thuộc, rất cũ kỹ nhưng mọi người cứ phải học lại luôn. Tôi nhớ có lần anh kể cho tôi nghe câu chuyện về Mạnh Thường Quân như sau:

“Mạnh Thường Quân là tể tướng nước Tề- giàu có, hào phóng- trong nhà lúc nào cũng có ba ngàn tân khách dập dìu, lui tới, chiêu đãi ngày đêm không hề để một ai phải phiền trách, buồn lòng… cho dù đó là Thượng đẳng khách, Trung đẳng khách hay Hạ đẳng khách. Tiếng thơm lan xa, sĩ tử các nơi tìm về qui phục và không một ai bị từ chối. Phùng Huyên là một kẻ sĩ có tài- bất đắc chí- nghe tiếng ông, tìm đến xem thực hư thế nào. Ông cũng được Mạnh Thường Quân tiếp nhận vui vẻ nhưng vì không có tên tuổi, vai vế, chỉ được tiếp đãi như một hạ đẳng khách. Tuy là một vị khách lạ nhưng Mạnh Thường Quân vẫn cho gia nhân thường xuyên chăm sóc, theo dõi xem ông khách khá lạ lùng nầy có hài lòng không, hoặc ông có cần gì thì kịp thời đáp ứng. Cố tránh mọi sự bất như ý. Một hôm, Mạnh Thường Quân gọi gia nhân đến hỏi :

_ Ngươi thấy ông khách thế nào ? có hài lòng về sự tiếp đãi của ta không?

_ Bẩm, suốt ngày ông ấy chỉ ngâm thơ, ngắm trăng và tự bảo mình “ về đi thôi, về đi thôi, ở đây bạc quá không có rượu thịt…”

Nghe thế, Mạnh Thường Quân bèn ra lệnh cho người nhà đưa ông khách lên hàng trung đẳng khách và tiếp đãi hậu hĩ, ân cần hơn trước. Một thời gian sau, lại gọi gia nhân đến hỏi xem thái độ của khách thế nào? Gia nhân đáp:

_ Bẫm, ông ấy vẫn ăn xong rồi nằm khểnh, ngửa mặt nhìn trăng, ngâm thơ rồi tự bảo: “ về đi thôi, về đi thôi, ở đây bạc quá, không có giường cao chiếu rộng, sơn hào, hải vị, xe ngựa đi chơi …”

Hôm sau, Mạnh Thường Quân ra lệnh cho gia nhân đưa ông lên hàng thượng đẳng khách, đối đãi không khác chi một bậc quí nhân, thường xuyên thăm viếng, đàm đạo…Bấy giờ, Phùng Huyên mới không tự nhủ “ về đi thôi, ở đây bạc quá”. Một hôm, Mạnh Thường Quân nhờ ông thay mặt mình đến một thái ấp rất xa để thu thuế. Thái ấp nầy ở một vùng hẻo lánh xa xôi, nhân dân rất nghèo, lại luôn bị thiên tai bão lụt, hạn hán… thường xuyên bị nạn đói hoành hành. Đã ba năm rồi dân ở Thái ấp chưa nộp thuế. Mạnh Thường Quân dặn dò và cho ông trọn quyền xử lý nếu có bạo loạn. Phùng Huyên lên đường. Đến nơi, trông thấy cảnh sống của bà con quá thiếu thốn, lại lâm cảnh mất mùa, đói khổ khắp nơi. Phùng Huyên không hề nhắc đến việc thu thuế, chỉ nói rằng tể tướng Mạnh Thường Quân sai mình đến ủy lạo dân chúng, cấp phát gạo tiền và tuyên bố miễn thuế cho cả Thái ấp thêm ba năm nữa. Dân chúng ở đấy vui mừng khôn xiết, hết sức biết ơn và ca tụng công đức của tể tướng Mạnh Thường Quân như một đại ân nhân, như một vị thánh sống. Họ tiếp đãi Phùng Huyên, người thay mặt cho tể tướng hết sức chu đáo. Ngày tiễn Phùng Huyên trở về kinh đô, cả Thái Ấp ra đưa tiễn suốt mấy dặm đường …Mạnh Thường Quân nóng ruột chờ mãi, chờ mãi…rất lâu Phùng Huyên mới về đến. Chẳng những không thu được một đồng thuế nào mà còn tốn hao gạo tiền cấp phát cho dân chúng ở đấy. Mạnh Thường Quân vẫn không hề biểu lộ sự bất như ý khi nghe Phùng Huyên giải bày:” Bẫm- tôi thấy tướng quân tiền của không thiếu, thóc gạo dư thừa, gia nhân tấp nập, nên tôi đã mạn phép bố thí tất cả cho dân chúng ở đấy, miễn thuế ba năm cho họ để mua lấy “âm đức” cho tướng quân sau nầy… Mạnh Thường Quân bèn đổi giận làm vui bởi sự thể đã rồi. Lúc bấy giờ trong triều đình có bọn nịnh thần sàm tấu:

_ Tâu bệ hạ- Mạnh Thường Quân có ý định làm phản, trong nhà lúc nào cũng nuôi ba ngàn tân khách là để tạo thêm vây cánh cho ông ta đấy thôi. Nếu Bệ Hạ không triệt trước e rằng sau nầy khó mà dẹp được…

Vua nghe lời, bèn cách chức tể tướng của ông. Không còn chức vụ, tiền của nữa, ba ngàn tân khách kẻ trước người sau lục tục kéo nhau lặng lẽ ra đi, không một lời từ giã, không một lời hỏi han, không một lần thăm viếng xã giao. Mạnh Thường Quân ngao ngán trước tình đời đen bạc chỉ tới, lui thở dài im lặng, chịu đựng…, không biết phải tá túc ở đâu bởi gia sản đã bị tịch thu, không biết phải nhờ cậy ai, bởi ai cũng quay lưng làm mặt lạ với ông. Quanh đi, quẩn lại chỉ còn mỗi một mình Phùng Huyên hàng ngày vẫn lui, tới vấn an, đàm đạo. Mạnh Thường Quân hỏi ông: “ Nay ta chẳng còn gì, sao ngươi không tìm nơi khác mà nhờ vả có hay hơn không?

_ Bẫm- Bấy lâu nay nhờ sự rộng lòng của tể tướng mà tôi mới có nơi dung thân, đến nay vẫn chưa có dịp báo đáp, lẽ nào tôi lại bỏ người ra đi trong lúc nầy?

Mạnh Thường Quân rơi nước mắt: “Cũng may trong đời ta còn có một Phùng Huyên để làm bạn, thế là quá đủ rồi, ta chẳng mong gì hơn.”

Phùng Huyên an ủi: “Xin Ngài đừng quá bi quan, lòng tốt của Ngài sẽ có trời biết đến. Bấy lâu nay tôi cũng nhờ nơi Ngài hậu đãi mà được yên thân, no đủ. Nay, Ngài gặp hoạn nạn, tôi sẽ hết lòng vì Ngài mà phục hồi danh dự và chức vị cho Ngài”.

Mạnh Thường Quân cảm kích nhưng vẫn không tin kẽ sĩ bất đắc chí kia có thể giúp được mình điều gì. Nay tài sản bị thu hồi, chức quyền không có, bạn bè, tôi tớ không còn ai… Mạnh Thường Quân theo lời khuyên của Phùng Huyên khăn gói lên đường trở về Thái Ấp ngày xưa nương náu tạm thời. Nghe đến tên Mạnh Thường Quân cả Thái Ấp kéo nhau ra chào đón trân trọng chẳng khác nào đón vua. Họ không cần biết Ngài có còn là Tể Tướng hay không, từ già đến trẻ, áo quần tề chỉnh, cuộc sống có vẽ sung túc, phồn vinh. Thì ra nhờ được cấp ban gạo, tiền và miễn thuế ba năm nên họ đã phục hồi cuộc sống ấm no, có phần giàu có hơn trước.

Nghe Phùng Huyên báo tin Tể Tướng đến thăm, họ biết ơn, mừng rỡ, sung sướng kéo nhau ra đón rước thật long trọng và mời Ngài hãy ở lại đấy với họ mãi mãi. Mạnh Thường Quân bảo với Phùng Huyên rằng: “ Ta còn được như ngày nay cũng là nhờ ơn của Phùng tiên sinh đã vì ta mà mua lấy “ âm đức” ngày nào. Nay ông hãy ở lại đây cùng với ta và bà con nơi đây an hưởng tuổi già” Phùng Huyên cả cười : “Sao Tể Tướng bi quan thế- Ngài cứ ở lại đây đợi tôi- Tôi còn có bổn phận phải đi để phục hồi chức Tể Tướng cho Ngài nữa kia mà”.

Rồi Phùng Huyên khăn gói lên đường, ông sang tận nước Lỗ, tìm vào yết kiến nhà vua hỏi rằng:

_ Bệ Hạ có nghe gì chăng?

_ Có chuyện gì thế ?

_ Mạnh Thường Quân, Tể Tướng nước Tề đã bị cách chức

_ Việc ấy có liên hệ gì đến ta ?

_ Tâu- Mạnh Thường Quân thì không có ý nghĩa gì. Nhưng ba ngàn sĩ tử trong thiên hạ thật khó mà qui phục họ trong một sớm, một chiều. Nếu Bệ Hạ mời được Mạnh Thường Quân về làm Tể Tướng thì ba ngàn sĩ tử trong thiên hạ sẽ về theo, bệ hạ sẽ có một lực lượng đáng kể trong tay. Đất nước Lỗ há chẳng hùng mạnh hơn nước Tề hay sao ?

_ Ngươi nói chí phải

Thế là vua nước Lỗ ra lệnh cho sứ giả sửa soạn lễ vật đến tận Thái Ấp xa xôi, hẻo lánh kia để mời cho được Mạnh Thường Quân về làm Tể Tướng. Phùng Huyên lại khăn gói lên đường tìm gặp vua nước Tề, tâu :

_ Bệ hạ đã nghe gì chưa ?

_ Có chuyện gì thế ?

_ Vua nước Lỗ cho sứ giả đi mời Mạnh Thường Quân về làm Tể Tướng

_ Việc ấy có ảnh hưởng gì đến ta ?

_ Tâu- một mình Mạnh Thường Quân thì không đáng kể, nhưng ba ngàn sĩ tử trong thiên hạ mới đáng kể. Xin Bệ hạ hãy cấp tốc phục hồi chức Tể Tướng cho Mạnh Thường Quân thì mới giữ được ba ngàn sĩ tử trong nước không theo Mạnh Thường Quân mà về với nước Lỗ. Nếu Bệ hạ để cho nước Lỗ mời được Mạnh Thường Quân thì khác nào thêm vây cánh cho hổ, chừng đó nước ta e rằng không tránh khỏi họa xâm lăng!

Vua Tề nghe vậy, cho người đi dò la tin tức, thấy đúng như lời Phùng Huyên đã tâu, bèn cấp tốc cho sứ giả đi mời Mạnh Thường Quân về và phục hồi chức Tể Tướng như xưa. Và rồi ba ngàn tân khách lại kéo nhau đến chúc tụng, có phần đông hơn trước. Mạnh Thường Quân ngao ngán bảo với Phùng Huyên :

_ Ta chẳng muốn nhìn thấy mặt họ nữa. Ta chỉ có mình ông là bạn cũng đủ rồi

Phùng Huyên cười đại lượng :

_ Ngài không nên thế- Ngài phải dung chứa họ như xưa và xem như không có chuyện gì xãy ra. Có thế Ngài mới xứng danh là Mạnh Thường Quân.

Câu chuyện xưa là vậy. Tôi nghiệm thấy sao giống chuyện của anh quá, dù anh không giàu có như Mạnh Thường Quân đủ để nuôi đến ba ngàn tân khách, anh cũng không có được một người như Phùng Huyên để bầu bạn. Nhưng ngay trong anh có cả hai người cộng lại. Chính vì thế mà khi gặp thất bại trong cuộc đời, anh vẫn tìm đủ mọi cách để vươn lên, không nản chí bao giờ dù trước mắt chưa có dấu hiệu gì khả quan cả. Thậm chí còn hết sức tuyệt vọng nữa là đằng khác. Không còn trường, không còn tiền của thì chức vụ cũng chỉ là cái hư danh mà thôi, lại còn nợ nần do không khéo tính toán khi chuyển đổi mặt bằng. Nên tuy học viên không giảm nhiều nhưng chi phí lại tăng, và thế là không kham nổi. Cho nên khi đơn vị cộng tác có ý đòi lại mặt bằng để hợp tác với người khác thì anh đồng ý ngay- bỡi nếu kéo dài thêm chỉ tạo ra nợ nần mà thôi. Không ai biết được tình hình đáng buồn đến như thế. Nhưng nếu có ai biết thì cũng chỉ để biết mà xa lánh dần bỡi không ai muốn làm thân với người ngã ngựa cả. Người ta không vỗ tay reo cười ngay trước mặt kẻ bị té cũng là có tư cách lắm rồi, cũng là tôn trọng nạn nhân lắm rồi, còn mong gì hơn… Tôi nghĩ thế để tự an ủi mình và để lòng không vướng bận thêm những ưu phiền không đáng ấy.

Buổi tối, khi mọi người đã đi ngủ cả. Tôi ngồi lặng yên nhìn khắp căn nhà lần cuối, nước mắt tôi trào ra. Việc gì đến sẽ đến. Vô thường là chân lý của cuộc đời mà! Đồ đạc đã đóng gói cả rồi. Căn nhà đã thuộc về người khác. Tôi chỉ còn được ngủ ở đây một tối nữa mà thôi, rồi mọi việc có được trôi chảy, suông sẽ hay không? Tất cả đều còn ở phía trước!! Hiện tại chưa có gì khả quan cả. Trong lòng tôi cứ nuôi hi vọng có một sự thay đổi bất chợt nào đó vào giờ cuối để không phải rời bỏ căn nhà thân yêu mà Trời Phật đã xếp đặt cho gia đình tôi ở đó hơn hai mươi năm trời. Căn nhà hi hữu mà cho đến giờ sắp chia tay tôi cũng hãy còn ngỡ ngàng không hiểu tại sao mình có được nó. Tôi chỉ biết nghĩ rằng chắc là do thần lực của chư Phật làm ra tất cả mà thôi, dù tôi không có một chứng cứ thế gian nào cả nhưng tôi có linh cảm của một người có niềm tin vững chắc bất khả thuyết, bất khả tư nghì. Căn nhà thân yêu mà hơn hai mươi năm trời đã chứng kiến biết bao thăng trầm, vui buồn của chúng tôi. Từ những ngày nó còn là gian nhà lụp xụp, ẩm thấp cho đến khi chúng tôi đã làm thay đổi nó hoàn toàn để trở thành căn nhà khang trang xinh xắn như ngày nay. Biết bao công sức, biết bao mồ hôi, nước mắt của chúng tôi đã đổ vào đấy để giờ này nó thuộc về kẻ khác! Chỉ vì một phút vụng tính của chúng tôi ! Dù sao thì chính nó cũng đã cứu chúng tôi thoát khỏi hoàn cảnh nan giải hiện giờ. Bao nhiêu ơn nghĩa, bao nhiêu kỹ niệm, bảo sao tôi không cảm thấy đau lòng khi phải rời bỏ nó mãi mãi? Ngày mai nầy, chúng tôi phải sang một chỗ ở khác, chắc chắn là không bằng nơi đây nhưng… dù sao thì cũng còn hơn những người ở vỉa hè! Cho nên tôi cũng hết sức biết ơn người bạn nghèo đã vui lòng, tin tưởng mà cho chúng tôi đến đó tá túc trong lúc hoạn nạn nầy, bởi có những người thân vẫn không dám cho chúng tôi nương nhờ vì sợ rằng cho vào rồi thì khó mà đuổi ra được. Thật đáng buồn cho kiếp người!!

Căn hộ mà chúng tôi mới dọn tới là của một gia đình đã xuất cảnh, chỉ còn lại người con trai út: đó là anh Giao, anh cũng là bạn của ông xã tôi, một người bạn lối xóm không thân cũng không sơ, bỡi đã quen biết nhau lâu nhưng không cùng nghành nghề nên ít có dịp gần gũi để hiểu nhau nhiều hơn. Thỉnh thoảng, anh hay ghé nhà chúng tôi mượn ít tiền mỗi khi gặp khó khăn và thường là chúng tôi cho luôn vì biết anh thất nghiệp, thường hay túng hụt. Anh cũng rất khí khái không bao giờ nhận quá số tiền mình cần dùng. Chính vì thế mà chúng tôi rất quí mến anh mặc dù không rõ gia cảnh của anh thế nào. Chỉ biết rằng anh là con út trong một gia đình khá giả nhưng bị cả gia đình hất hủi vì không chấp nhận người vợ của anh. Thế là họ phải lang thang hết nơi này đến nơi khác, mỗi nơi chỉ ở được vài tháng bỡi không có tiền để trả tiền nhà thường xuyên. Họ cũng có một đứa con gái nhỏ. Nghe đâu bé chỉ là con nuôi, bởi cả hai vợ chồng đều vô sinh. Khi cả nhà xuất cảnh, cả hai mới được quyền về nhà trông coi căn hộ khá rộng rãi ấy. Đối diện nhà là miếu Ngũ Hành, thờ thánh nữ và các vị Hộ pháp. Nghe đâu căn nhà cũng nằm trên phần đất của Miếu và người chủ Miếu đã cho mướn lại, sau khi giải phóng, ban Quản trị của Miếu đi hồi hương, con cái họ cũng phiêu bạt không còn ai. Nhà nước mới tiếp thu, không rõ bỡi căn hộ không được khai báo, thế là được coi như độc lập không thuộc quyền quản lý của Ban quản trị Miếu nữa, mà thuộc nhà nước quản lý, người trong nhà được đảm bảo quyền lưu cư nhưng phải chờ nhà nước hợp thức hóa mới có chủ quyền sở hữu căn nhà. Họ có nhà nhưng không có tiền, thế là cứ sống bằng cách cho thuê nhà cũng tạm được tuy có thiếu hụt đôi chút. Nhà gần trường nên người vợ ra cửa trường buôn bán lặt vặt thêm cũng tạo được một cuộc sống khá ổn định hơn xưa. Thế là chúng tôi đề nghị anh cho chúng tôi thuê nhà của anh, thay vì người khác thuê ngắn hạn, chúng tôi làm hợp đồng thuê nhà hai năm liền để anh có tiền gởi nhà băng lấy lời hàng tháng mà chúng tôi cũng tạm ổn định một thời gian dài để tìm phương cách làm ăn không phải lo lắng về chỗ ở nữa.

Ngày đầu tiên sống chung với những người không có chút liên hệ gì về huyết thống khiến tôi không khỏi cảm thấy lo ngại, bỡi hơn ai hết, tôi vô cùng hiểu rằng mỗi người là một thế giới riêng, khó mà cảm thông nhau trọn vẹn để không khỏi hiểu lầm do thành kiến, do cái nhìn hạn hẹp của người trần mắt thịt, do những ganh ghét, tị hiềm nhỏ nhặt của kiếp người. Ở người đàn bà đó- vợ anh Giao, chủ nhà- có một cái gì đó khiến cho tôi cảm thấy khó gần gũi. Nó không giống như đối với những người phụ nữ khác. Cái cảm giác ban đầu ấy có lẽ là do chúng tôi không cùng làm chung một nghề chăng ? Tôi cho là như thế. Nhưng tôi vẫn tự nhủ mình sẽ cố gắng sống nhẫn nhục để cho qua mau hai năm khốn khổ, hoạn nạn của gia đình mình. Tôi dạy các con tôi phải biết kính trọng người lớn và thương yêu trẻ nhỏ hơn mình để các con tôi không vì hoàn cảnh mà trở nên những đứa trẻ khó dạy. Tôi cũng cầu nguyện hằng đêm cho gia đình mình sớm phục hồi như xưa. Chỉ cần có một mái nhà nho nhỏ đủ để trú mưa trú nắng và không còn nợ nần nữa là tôi mãn nguyện rồi. Ôi! Sao mà khó quá! Không biết có được như lòng tôi mơ ước không nữa. Hiện tại sao mà mờ mịt quá. Gía như có ai đó sẵn lòng giúp đở anh ấy trong hoàn cảnh nầy nhỉ? Tôi sẽ biết ơn vô cùng. Nhìn quanh- sao chỉ thấy những toàn những nụ cười mãn nguyện của mọi người dành cho mình thôi. Tôi có lầm không nhỉ ? chắc là tại mình quá mặc cảm mà ra! Tôi cố gắng nghĩ về họ như thế và hi vọng là đúng. Chính vì cái mặc cảm đó mà chúng tôi đã đề nghị với anh Giao nếu có ai hỏi han thì cứ bảo rằng họ cho gia đình chúng tôi ( bạn thân) tá túc trong khi chờ đợi một chỗ ở khác ổn định hơn.

Trong thời gian nầy chúng tôi được chùa Xá Lợi nhận cho làm chế bản ở phòng phát hành kinh sách, nhờ thế mà cả gia đình có việc làm tạm ổn để chờ đợi một cơ may khá hơn cho cuộc sống tạm ở thế gian nầy. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy đó là thời gian ý nghĩa nhất và là thiện duyên hiếm có của cả một kiếp người, không phải ai cũng có thể có được. Nhờ thiện duyên đó mà cả gia đình tôi có cơ duyên để học Phật kỹ hơn, các con tôi cũng ảnh hưởng phần nào triết lý sống của Đạo Phật, trở thành Phật tử thuần thành hơn, chúng rất hồn nhiên và xem mọi khó khăn trong cuộc sống ( nếu có) đều là những khoảnh khắc tạm thời, có thể đổi thay bất cứ lúc nào- mọi pháp đều hư huyễn- tốt hơn hay xấu hơn đều do chính mình quyết định. Hoàn cảnh bên ngoài chỉ là trợ duyên thêm mà thôi, còn vấn đề thời gian sẽ xác định ý chí và giá trị của mỗi con người trong cuộc sống. Điều quan trọng nhất là cái tâm phải trong sáng, luôn yêu thương con người cho dù họ có đối đãi với mình tệ bạc đến đâu đi nữa. Có thể là chúng tôi đã dạy con mình không giống một số người khác nhưng điều chúng tôi rất tôn trọng là sự tự do tư tưởng, không hề bắt buộc chúng phải chấp nhận một điều gì mà không yêu cầu chúng phải suy nghĩ kỹ trước khi quyết định. Bởi chúng đã lớn, chúng có quyền được đóng góp ý kiến về mọi điều chung trong gia đình, cố hết sức tránh cho chúng những ý nghĩ riêng lẻ đến độ ích kỷ hẹp hòi chỉ biết có mình. Chúng tôi cũng cố gắng giải thích cho chúng hiểu thế nào là lối sống tương tức mà không để chúng cảm thấy mình bị Bố mẹ kiểm tra, không bị tha nhân chi phối vào cuộc sống riêng mà vẫn có được giây phút riêng tư để tự chọn cuộc sống cho mình- một cuộc sống có ý nghĩa riêng mình mà cũng có đóng góp ích lợi cho xã hội để cùng nhau vươn lên . Do đó mà khi dọn về ở chung với một gia đình hoàn toàn xa lạ, các con tôi cũng rất dễ hòa mình, chúng không mặc cảm cũng không phân biệt đối xử với mọi người trong nhà cũng như mọi người khách của cả hai gia đình- nhất là đối với người vợ của anh Giao, một người đàn bà “ quá ư thô lỗ” suốt ngày chửi chồng bằng những lời lẽ hết sức tục tằn, hỗn láo… chúng- các con tôi, lúc nào cũng gọi chị bằng cô xưng cháu thân mật như đối với một người cô ruột, mọi điều không tốt của chị, chúng đều coi như chuyện bình thường của kiếp người, của những người không chút trình độ về trí thức cũng như về đạo đức. Những ngày đầu sống chung, tôi vô cùng ngạc nhiên trước tác phong “ bất bình thường” ấy của chị ta. Có lẽ vì thế mà bà cụ không thừa nhận chị ta là con dâu chăng ? Tôi chỉ dám nghĩ đến như vậy thôi, chứ không biết quá khứ “oanh liệt” của chị ta như thế nào.

Mỗi ngày, khi các con tôi đi học, tôi ở nhà cũng bắt đầu công việc của mình. Sáng, tôi đánh máy được khoảng mười lăm trang giấy A4, đó là vừa làm vừa nấu cơm, còn như chỉ làm công việc đánh máy thôi có lẽ nhiều hơn. Trưa về, các con tôi vừa sửa lỗi, dàn trang và in ấn, còn Bố chúng thì chịu trách nhiệm tổng quát in ra bản laser và giao hàng hoặc nhận hàng mới… Công việc tuy không vất vả nhưng khá bận rộn bởi vì không có thì giờ nghỉ ngơi cụ thể, mà công việc tạm thời để sống thì không thể chọn lựa theo ý mình được. Có việc là quí rồi, không dám đòi hỏi gì hơn. Vả lại, trong cõi đời nầy có những điều mà ta tưởng là tạm thời, vẫn có thể là tạm thời cho đến hết kiếp người mới thôi. Cái gia đình mà chúng tôi sống chung lại hết sức nhàn rỗi. Anh chồng thì sáng: cà phê, trưa: cà phê, chiều: cà phê, tối: cà phê và đánh đề, sổ xố… Người vợ bán giải khát ở trường học gần đó, hôm nào bán đắt hàng hoặc trúng đề, hốt hụi..v..v.. thì nghỉ bán để xài cho đến khi không còn tiền nữa mới lại đi bán. Thỉnh thoảng anh chồng có được tiền của nước ngoài do bà cụ gởi về thì cả nhà được một phen ăn xài thoả thích mà không cần phải bán buôn gì cả. Rất nhiều người bạn hảo tâm thấy cuộc sống của anh không có gì đảm bảo đề nghị xin việc làm cho anh để có đồng lương ổn định, dù là ít ỏi nhưng anh ta đều từ chối, viện lẽ không thích cuộc sống công chức gò bó “ sáng vác ô đi, tối vác về”. Cái xó tối nhất của gian nhà là nơi anh ta ngồi mơ màng suy tính mọi việc cho tương lai, cái tương lai viễn mơ cũng như đầu óc đầy tưởng tượng của anh - những chương trình to lớn thuộc tầm cở quốc gia mà anh vẽ ra trước mắt thật khó mà thực hiện nổi : khu vườn của anh trong tương lai bạt ngàn ngút mắt, cây trái cứ đến mùa thu hoạch thì tấp nập người đến anh xin làm công, những trại chăn nuôi trên vùng đất cao nguyên trù phú mà anh là một ông chủ trại có kiến thức rất sâu về sinh vật. Những ao cá, những thủy sản mà nông trại của anh gây giống sẽ tung ra khắp các nước trên thế giới. Mọi người sẽ đến đặt hàng không cần phải qua một trung gian nào hết..v..v.. và..v..v..Nghe những dự tính ấy của anh, ai cũng phì cười bỡi thực tế thì… ôi, sao mà luộm thuộm thế: đầu bù, tóc rối, hai má hóp sâu làm cho hai trũng mắt lõm vào trông thật thương tâm. Răng thì khập khểnh cái còn, cái mất lỡm chỡm không giống ai, tóc không hớt cứ để dài rũ rượi như người mất trí. Quần áo thì lôi thôi ống cao, ống thấp không có giây lưng, cứ mặc vào thì hai tay xách lên như sợ bị tuột. Đã thế lại đi cứ như chạy khiến cho các con tôi cứ thì thầm kháo nhau: ai mà đứng nói chuyện lâu với bác ấy có ngày bị “quê” đấy! Thậm chí, có hôm anh ta còn mặc cả đồ đàn bà nữa. Thật là quái dị! Suốt ngày ngồi một góc trong xó tối suy tưởng, không làm gì cả, nếu có đứng lên là để chuẩn bị ra quán cà phê ngồi tiếp…hoặc đi dò số, dò đề…Có người cho rằng anh ta mắc bệnh “hoang tưởng”. Ông xã tôi cho rằng tại anh ta “thất nghiệp” quá lâu nên sinh ra như thế. Còn tôi thì không tin vào điều anh biện hộ cho bạn anh, bỡi vì tôi đã từng chứng kiến biết bao người mời anh ta đi làm nhưng anh ta đều từ chối, viện đủ mọi lẽ. Ngay cả khi nhà tôi vừa tìm được cơ sở mới, mời anh ra phụ giúp một tay với chức năng giáo vụ để anh có thêm thu nhập cho gia đình và để bớt đi số thì giờ quá nhàn rỗi của anh, vậy mà…anh ấy cũng từ chối. Tôi thật không ngờ, cứ tưởng anh ấy sẽ nể nhà tôi mà nhận lời, với lại ở đời chỉ có “người tìm việc” chứ ít khi có trường hợp “việc tìm người” như thế, mà lại còn bị từ chối nữa mới là buồn cười ! Thế thì không phải vì “thất nghiệp” nên sinh ra “gàn gàn” như thế mà có lẽ vì “bệnh lười biếng” hay “bệnh dở người” như ông bà ta vẫn thường đặt tên cho loại người như vậy. Người vợ của anh ta còn “kinh dị” hơn. Khoảng ba mươi ngoài nhưng cứ thích mặc quần áo cũn cỡn như trẻ con. Hễ đi bán thì thôi, hôm nào ở nhà thì cứ bộ quần áo lót mặc cả ngày đi tới đi lui trông rất chướng mắt. Tôi chỉ sợ các con tôi đang ở tuổi mới lớn, chúng có thể bị “sốc”, nhưng may mắn thay chúng rất hồn nhiên không hề để ý đến điều đó bao giờ. Lần đầu tiên phải sống chung với những người không cùng huyết thống, nhất là hoàn toàn khác biệt nhau về tính cách cũng như nếp sinh hoạt, tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, có nghĩa là sẽ không bền cho cuộc sống chung nầy. Không biết rồi đây mọi chuyện sẽ diễn tiến theo chiều hướng nào nhưng chắc chắn là mọi điều sẽ không đứng yên như lúc ban đầu nữa rồi.

Gian phòng của cả gia đình tôi chỉ rộng khoảng chín thước vuông, tất cả vật dụng được xếp lên cái gác xép nhỏ phía trên vừa làm kho để sách, vừa làm la phông cho phần dưới đở nóng. Cả gian phòng vừa đủ kê hai cái giường cho lũ trẻ còn chúng tôi phải nằm dưới đất, một cái bàn nho nhỏ vừa làm bàn ăn vừa làm bàn làm việc cho cả nhà. Nói vậy cho sang nhưng thật ra có ai làm việc tại nhà được đâu ? Khi tất cả chúng tôi rời trường về đến nhà thì cũng là lúc hai vợ chồng anh Giao cũng về tới và rồi họ bắt đầu gây gổ, chửi nhau khiến cho cả nhà chúng tôi không sao chịu nổi. Thế là mỗi người tìm một chỗ lánh mặt, kẻ về nội, người về ngoại để tránh cái không khí đầy “ô nhiểm môi trường” bỡi những lời chửi chồng quá thô lổ tục tằn của người vợ. Nếu hôm nào họ không chửi nhau thì đó là lúc họ chửi nhau với lối xóm. Khổ cho các con tôi, chúng học bài trong tình hình như thế mà vẫn phải cố gắng học, bỡi không còn nơi nào khác hơn nữa. Người vợ thì chỉ cười, nói khi nào mượn tiền chúng tôi, còn thì lúc nào cũng “mặt sưng mày sất” như sẵn sàng để chửi nhau với bất cứ ai. Cứ sáng ra thấy tôi mà hỏi thăm một câu thì y như rằng mười lăm phút sau thị lại mon men mượn tiền. Lúc đầu, tôi đưa ngay vì nghĩ rằng sống chung cũng nên giúp nhau mỗi khi cần thiết thì mới giữ được hòa khí trong nhà. Nhưng cứ vài ngày là chị ta lại hỏi mượn tiền, mà có ít đâu, vài trăm ngàn trở lên, hay ít nhất cũng là một trăm ngàn. Trời ạ ! gặp lúc gia đình tôi đang hoạn nạn nữa thì những số tiền kia đâu phải là nhỏ. Lúc đầu, tôi không dám nói với nhà tôi, cứ lấy tiền dành dụm riêng của mình mà đưa cho chị ta, chỉ trong vòng hai tuần là số tiền nhỏ nhoi hơn một triệu của riêng tôi cũng hết, tôi bắt đầu hoảng lên mỗi lần chị ta hỏi, tôi lại lấy cớ rằng mình cần tiền bảo ông xã tôi đưa để tôi cho chị ta mượn, có lần anh ấy đưa chậm, thế là cả ngày hôm đó chị ta hết “mắng chó, chửi mèo” rồi đến chửi con, chửi chồng. Tôi chịu hết nổi, phải gở cái nhẫn trên tay đưa cho chị ta mượn để cho các con tôi không phải sống trong cái không khí “kinh khủng” đó. Trong cái gia đình nầy có lẽ chỉ còn đứa con gái nhỏ của họ- bé Mỹ- là chưa “bất bình thường” như hai người lớn kia, nghe bà con trong xóm nói con bé chỉ là con nuôi, có lần anh Giao nhờ ông xã tôi đi làm giấy khai sinh cho cháu, tôi mới biết điều đó là thật chứ không phải lối xóm thêu dệt. Ngày nào cháu cũng ăn cơm với gia đình chúng tôi, bởi cả ngày bố mẹ nó cũng không hề có buổi cơm chung nào, mạnh ai nấy ăn “cơm đường cháo chợ” đúng nghĩa. Họ có cho nó tiền để ăn quà thay cơm, nhưng nó cứ thích ăn cơm với gia đình chúng tôi, có lẽ đó là không khí gia đình êm ả, đoàn tụ mà từ trước tới giờ nó chưa được hưởng chăng ? Nó rất thích chơi với con gái út của tôi- bé Hạnh- nhưng không hiểu vì lý do gì mà người đàn bà làm mẹ nó lại cứ cấm đoán. Mỗi lần chị ta về đến trừng mắt một cái là nó rúc vào phòng ngủ nằm im cho đến lúc chị ta ra khỏi nhà thì nó lại tụt xuống giường đi tìm chị Hạnh. Nó nhỏ hơn bé Hạnh bốn tuổi, mới học lớp hai nhưng cứ thích hỏi những chuyện của người lớn, thích hóng chuyện của bất cứ ai đến nhà. Lúc đầu ai cũng nghĩ rằng nó tò mò hoặc hiếu kỳ nhưng thật ra không phải thế. Nó đã được người đàn bà nuôi nó rèn luyện theo bản tính của chị ta. Và trước một bé Hạnh hoàn toàn hồn nhiên, ngây thơ, nó bổng trở nên một con bé láu lĩnh, ranh ma để đối phó với mẹ nó. Nó sẵn sàng làm những điều mẹ nó cấm đoán những khi chị ta vắng nhà hay khi chị ta…đi ngủ, nhưng khi chị ta về đến hoặc thức dậy thì nó trở thành một đứa trẻ ngoan chưa từng có. Thậm chí, nó giống như một cục đất sét, chị muốn nặn hình gì cũng được- nếu không- nó sẽ phải ăn những trận đòn khủng khiếp. Lúc đầu thấy con bé bị đòn, tôi rất bất bình và cố tình can thiệp, ngăn cản không cho chị ta đánh nó nhưng rồi những lần sau tôi cứ để mặc, bỡi nếu thấy tôi can gián, chị ta càng làm già, đánh con bé nhiều hơn. Mỗi cá nhân trong cái gia đình nhỏ bé đó là một thế giới riêng biệt- có thể nói là cá biệt- Cái thế giới đó hoàn toàn khác với gia đình tôi, khó mà hòa hợp với nhau để có thể cùng sống chung một nhà. Tôi cãm thấy điều đó rất rõ, nhưng không làm sao thay đổi được bỡi hoàn cảnh thực tế không cho phép. À- còn rất nhiều thành viên kinh khủng nữa trong gia đình anh Giao mà tôi chưa kể đến : đó là tám con mèo già sắp hóa cáo của anh ta : chúng ranh ma và phá phách không sao chịu được. Thực phẩm của bất cứ ai cũng bị “đánh cắp” một cách tài tình. Nhoáng một cái chúng đã “chén” sạch, thế là nằm lăn ra khắp nơi ngủ li bì trên nệm, trên ghế, trên tủ, trên kệ sách, trên ti vi… và… trên cả bàn thờ của gia đình mọi người! Có lần các nhà láng giềng đã phải đưa vấn đề ra tổ dân phố bỡi vì chúng phóng uế bừa bải bất kể là ở chỗ nào khi chủ vắng nhà. Sự việc nghiêm trọng đến độ họ định giải quyết với anh ta bằng vũ lực nếu như nhà tôi không can gián họ. Cả xóm đặt tên cho anh ta là “tên tâm thần và bầy mèo” kể cũng không phải là quá đáng. Ấy vậy mà chúng tôi phải chung sống với họ suốt nửa năm trời đấy.

Không bao giờ tôi quên được cái buổi chiều kinh khủng trước lúc hai gia đình chia tay. Sau khi tìm được một chỗ ở mới, ông xã tôi báo cho người chồng biết để rút lại số tiền thuê nhà hai năm và sang đặt cọc cho căn nhà mới. Bỡi chúng tôi không thể nào chịu đựng được hơn nữa cái cảnh chửi nhau quá thô lỗ của họ. Nhất là ở người đàn bà quá ư là trơ trẻn nầy, sợ rằng sẽ có nhiều điều “đáng tiếc” hơn nữa xãy ra sau nầy chăng? Thế là chúng tôi quyết định “chia tay” với họ. Đồ đạc đã gói ghém sẳn sàng nhưng chúng tôi vẫn không đi được vì họ chưa trả tiền, cả nhà hết đứng lại ngồi chỉ mong họ trả tiền sớm để dọn đi. Chúng tôi chỉ nghĩ đến một điều hết sức đơn giản là họ đang chạy tiền để hoàn trả cho chúng tôi. Nào ngờ…họ chẳng khác trẻ con, lời hứa như chuyện đùa, chúng tôi đã cãm thấy trước điều nguy hiểm có thể xãy ra nếu như cứ sống chung với những người “kỳ dị” như thế. Đợi mãi…sốt ruột, các con tôi rũ nhau lên nhà mới. Bố chúng đi ăn cưới, chỉ còn mỗi mình tôi ở nhà trông coi đồ đạc. Khi chị vợ anh ta trở về, giống như một người điên, chị ta sừng sộ gây gổ, chửi bới lung tung. Có lẽ mục đích là để tôi chịu không nổi mà bỏ đi, thế là “mất cả chì lẫn chài”, tôi cũng hiểu như thế nên bước ra cửa, qua nhà hàng xóm ngồi chờ cả nhà về sẽ giải quyết sau. Được thế, chị ta càng lấn lướt, chửi bới tục tằn thô lổ không sao chịu được. Bà con lối xóm bu lại xem vòng trong, vòng ngoài. Họ không hiểu chuyện gì. Tôi xấu hổ muốn chết đi được bỡi đây là lần đầu tiên mình bị dính vào những chuyện như thế. Cả hai vợ chồng anh ta gào thét, la lối, chửi bới chán chê rồi người vợ “xung” quá xấn xổ nhào tới định “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với tôi, nhưng…cũng may cho tôi, bà con lối xóm đứng xem nãy giờ đã hiểu chuyện. Họ xông vào lôi “con mụ điên” ra và vây quanh để che chở cho tôi, có người tức quá tát cho “con mụ” một cái để tỏ lòng bênh tôi. Thật không sao nói hết được lòng cảm kích của tôi đối với họ, bỡi từ lúc về xóm nầy tới giờ, tôi có dám nói chuyện với ai đâu, phần thì mặc cảm “sa cơ thất thế”, phần thì sợ phải trả lời những thắc mắc chính đáng của những người quen- nào là tại sao cậu mợ không tá túc nhà ông bà gần đó mà phải qua tá túc nhà một gia đình tâm thần như thế ? Anh em cậu không ai giúp cậu sao mà phải đi ở nhờ nhà của một anh bạn bất bình thường như thế? Những lúc đó tôi phải tìm một cái cớ hợp lý để giải thích cho xong chuyện và rồi cố tình tránh mặt mọi người quen- Tôi gần như bị cô lập trong cái thế giới riêng đầy mặc cảm của chính mình, phần thì do sự rào đón ngăn cản của cả hai vợ chồng gần như không muốn cho gia đình tôi giao thiệp với bà con lối xóm nên họ đã vẻ ra đủ chuyện mà sau nầy tôi mới biết là không thật có, phần nữa thì…vì quá bận “đầu tắt mặt tối” cả ngày để kiếm cơm áo cho các con nên chưa bao giờ tôi có dịp qua lại với mọi người. Vậy mà…họ đối với tôi quá hậu hỉ- còn hơn cả người thân- bênh vực tôi tận tình đến như thế. Tôi đứng lặng thinh cảm động muốn rơi nước mắt trong vòng vây quanh “bảo vệ” của bà con lối xóm trong khi cả hai vợ chồng lồng lộn chửi rủa đến điếc cả tai. Sau cùng thấy tôi vẫn cứ làm thinh chịu đựng, người chồng bèn đi gọi công an đến phân xử. Thật là buồn cười! Tôi không hiểu tại sao anh ta lại đi gọi công an? Người đi gọi là tôi mới phải chứ. Cuối cùng là bảng tường trình và lời cam kết của cả hai vợ chồng hứa hoàn đủ số tiền nhà và để chúng tôi ra đi …an toàn! Buồn cười chưa?! “sông có khúc, người có lúc” đó là điều an ủi mỗi khi tôi cãm thấy cuộc đời sao mà đen tối quá! Con người sao mà nhẫn tâm quá! Đa số họ chỉ thích cười khi nhìn thấy người khác ngã ngựa, chứ có mấy ai chạy đến đở người bị té cho dù đó chính là người thân của mình. Tôi cũng rút ra được một kinh nghiệm quí giá là _ một chén cơm nguội nếu ta cho người khi đói lòng thì nó vẫn có giá trị hơn một cân vàng ta cho khi người đã no đủ_và điều đó đã giúp tôi hình thành một quan niệm sống của riêng tôi. Nếu như giòng đời lúc nào cũng cứ êm đềm chãy xuôi, không có những đoạn quanh co, khúc khuỷu, bùn lầy nước đọng thì làm sao có được phút thú vị khi ta thảnh thơi ngắm nhìn cảnh đẹp lúc bình minh? Tôi nghĩ thế để tự an ủi mình mà cũng để xóa đi cái nhìn đen tối đối với cuộc đời, đối với con người. Bao giờ cũng thế. Cái thiện đi đôi với cái ác, người xấu luôn ở cạnh người tốt. Thất bại hôm nay sẽ là kinh nghiệm cho thành công sau nầy. Sáng và tối chỉ là hai mặt của cuộc đời không bao giờ tách rời ra được. Hôm nay ta ở trong vùng tối, mai kia ta có thể lọt vào vùng sáng- miễn là lúc nào ta cũng giữ được tâm hồn trong sáng thanh tịnh thì ở đâu cũng là hạnh phúc cả. Hiểu và nhận ra điều đó thật không dễ chút nào- phải trả giá bằng rất nhiều nước mắt trong suốt cuộc mưu sinh của kiếp người đấy ! Còn đối với những ai xem thất bại của kẻ khác là đắc thắng của mình thì chỉ là những kẻ thiển cận, không đáng để ta quan tâm đến. Tất cả mọi điều rồi sẽ qua đi như một giấc mơ ! Lòng không vướng mắc bất cứ điều gì, một sự hỷ xả hoàn toàn rốt ráo. Đó mới là chân giá trị của “kiếp người”. Tôi nghĩ thế.

Vân Hà (TTHA)

(Nguồn: Tuyển tập Truyện ngắn Vân Hà - tập 2)

Friday, July 19, 2024

TRƯỜNG ĐỜI

TRƯỜNG ĐỜI

Buổi chiều đi học về, trời mát, tôi hay chạy xe lang thang qua các ngả đường để dạo chơi trước khi trở về nhà. Từ nhà đến trường cũng khá xa, tôi thường đi dọc theo các đường Hai bà Trưng, Hồng Thập Tự, Gia Long, Phan Đình Phùng… rồi mới rẻ vào Lý Thái Tổ để về nhà ở đường Bà Hạt…khi tôi rẽ ngang chợ Bàn Cờ, nằm ở đường Phan Đình Phùng, tôi thấy một cô gái giơ tay vẫy tôi dừng lại. Tôi cũng không nghĩ ngợi gì, dừng xe lại ngay để xem cô ấy cần giúp đở gì chăng? cô gái khoảng trên ba muơi tuổi, ăn mặc khá diêm dúa, son phấn đậm đà… nắm lấy tay tôi, vẻ mặt hốt hoảng :

– Em ơi, em có thể cho chị quá giang một đoạn đường không? chị đi chợ bị móc túi hết rồi, không còn tiền để về xe nữa…

– Nhà chị ở đường nào ?

– Phú Thọ Lò Da, cũng gần đây thôi…

Thấy còn sớm, vả lại cũng cùng đường về nhà tôi nên tôi vui vẻ nhận lời :

– Chị lên đi, em chỡ dùm cho một đoạn đường thôi nhé

– Ừ, cám ơn em lắm

Nói xong cô gái nhảy phóc lên ngồi sau lưng tôi, hai tay ôm chặt lấy tôi như sợ té. Tôi rồ máy xe chạy đi, tự nhiên tôi kín đáo dò xét thái độ của cô gái qua kính chiếu hậu. Một trực giác mơ hồ nhưng khiến tôi cảm thấy có điều gì đó bất ổn. Dường như cô gái nầy không thành thật, những gì cô nói với tôi có lẽ chỉ là lý do ngụy tạo mà thôi. Nhưng đã muộn rồi, cô ấy đang ngồi sau lưng tôi hai tay ôm chặt tôi như người thân, nét mặt lộ vẻ sành đời với son phấn lòe loẹt mà bây giờ tôi mới nhận ra, nhưng tôi cố trấn tỉnh, giữ vẻ tự nhiên như không biết mình đã lỡ giúp kẻ gian. Cô gái áp sát vào lưng tôi hỏi:

– Ngày nào em cũng đi học về đường nầy à?

– Dạ,… sao nhà chị ở Phú Thọ mà chị đi chợ Bàn Cờ chi cho xa?

– Ờ, tại chị thích đi chợ Bàn Cờ…

– Sắp đến nhà chị chưa, chị chỉ đường em đưa đến tận nhà cho…

– Ờ, bao giờ đến đầu ngõ chị sẽ nói …

Tôi vòng qua ngã bảy để rẻ vào đường lên Phú Thọ thì đột nhiên cô ấy đổi ý :

– Thôi em, cho chị quá giang qua cầu chữ Y nhé, bây giờ mà về nhà chắc chị khó sống với ba, ông đánh chị chết, bỡi vì chiếc xe chị làm mất là của ba chị mượn ông chú, bây giờ chị phải đến nhà chú trước năn nỉ thú tội, chứ nếu không chị không dám về nhà đâu…

Tôi ái ngại :

– Chắc không sao đâu chị, với lại bị ba đánh khi mình có lỗi cũng chẳng sao, ráng chịu chút xíu thôi mà…

– Ờ em nói cũng phải, nhưng chị muốn về nhà chú trước để chú dắt chị về dùm, chắc sẽ bị đòn ít hơn…

Nghe hợp lý, tôi đổi hướng đi về cầy chữ Y. Cô gái ôm chặt lấy tôi hơn nữa, lén nhìn qua kính chiếu hậu tôi thấy cô ấy cười rất tươi chẳng có vẽ gì lo lắng cả, rồi cô nói chuyện huyên thuyên về mọi thứ…tôi lắng nghe nhưng vẫn không biết cô thuộc thành phần nào trong xã hội, khi thì có vẻ như một người buôn bán nhỏ , khi thì giống như một người mẹ trẻ đã từng vấp ngã trên đường đời, khi thì mang tâm trạng chán chường của kẻ đang vất vả, bôn ba trên đường đời vì miếng cơm, manh áo….nhưng có một điều tôi biết rõ là việc quá giang của cô chắc có chủ ý, đột nhiên tôi cảm thấy lo lo, giọng tươi cười của cô không ngớt vang sau lưng tôi:

– Em có cho ai quá giang như thế nầy bao giờ chưa ?

– Chưa, chị ạ…đây là lần đầu em cho chị quá giang đấy. Hồi nào đến giờ có ai chận em lại để quá giang kiểu nầy đâu…

Chị ấy ởm ờ:

– Nếu như chị là người không đàng hoàng thì em làm sao?

– Không đàng hoàng là thế nào, hả chị?

– Gỉa dụ như chị là kẻ lừa đảo, xấu bụng chuyên đi gạt gẫm người khác để có lợi cho mình…

– Em nghĩ… chắc là không ai nở hại người tốt đâu. Người ta tốt với mình, giúp đỡ mình khi mình gặp hoạn nạn thì có lẽ nào mình đi hại người ta sao ?

– Ờ… em nói cũng phải…nhưng ở đời có những việc ngoài ý muốn của mình em ơi…

– Chị nói vậy là sao, em không hiểu…

– Thì em cứ hiểu đại khái là cái người xấu đó cũng đang làm việc theo ý của người khác mà họ bị lệ thuộc…rồi…vì áp lực của nhóm người ấy mà họ phải thực hiện một kế hoạch nào đấy của nhóm để làm kế sinh nhai, tuy có hơi bất lương, tàn nhẫn đôi chút, nhưng vì…cuộc sống mà em… Tôi nói một cách chân tình:

– Có thể có loại người đó, nhưng em rất tin ở tha lực của Trời Phật, nếu như mình thương người, giúp người bằng tất cả lòng yêu thương con người không vụ lợi thì…chắc là họ không nở hại mình đâu, vả lại em cũng tin ở luật nhân quả, nếu như trước đây em chưa từng hại ai thì chắc chắn là sẽ không ai nở làm hại em cả, cũng như quỉ thần hai vai sẽ không để em bị họ làm hại một cách dễ dàng đâu…

– Có thể em có lý… em cũng tự tin quá nhỉ ?

Tôi cười nhẹ:

–Ba má em dạy… phải biết giúp đở người khác khi họ cần mình giúp, giúp ngay mới đáng quí chứ nếu từ chối thì không có dịp khác để giúp đở ai đâu…

Cô ấy không cười cợt nữa:

– Ba má em chắc là người tốt lắm, lại khéo dạy con, chị không có được cái may mắn như em, từ nhỏ tới lớn chị phải sống nhờ vào gia đình của chú… chị mồ côi mà…

– Ua sao lúc nảy chị nói chị còn ba má…

Tôi chưa hết ngạc nhiên, thì cô ấy bảo tôi:

– Thôi em dừng lại bên nây cầu, cho chị xuống…

– Không sao đâu chị, để em chở chị tới tận nhà cho…

– Thôi, qua bên kia cầu chữ Y… chị không thể tự ý quyết định được đâu…em cho chị xuống ngay đi…nhanh lên…

Gịong nói của cô gái có vẻ hối hả nhưng cương quyết, tôi dừng lại bên đây cầu để cho cô xuống đi bộ một mình về nhà. Trước khi vội vả băng qua đường, cô ấy nói vừa đủ cho tôi nghe:

– Chị dặn em điều nầy: lần sau nếu như có ai đó xin em cho quá giang thì em hãy cho họ tiền để họ tự đi về, đừng cho quá giang như thế nầy rất nguy hiểm cho em, thôi… đi đi…kẻo bạn chị nhìn thấy thì không đi được đâu…cám ơn em…

Linh cảm điều chị nói không phải là chuyện đùa, tôi cho xe chạy thẳng mà đầu óc còn bàng hoàng không hiểu vì sao mình có thể thoát qua một đại nạn…

Về đến nhà, tôi kể lại cho mọi người nghe chuyện cô gái quá giang tôi trên đường về, ai cũng cãm thấy lạ và cùng bảo với tôi:

– Mầy còn may mắn lắm đấy, chứ nếu không giờ nầy cả nhà không biết mầy ở đâu để mà đi tìm nữa. Sao mầy dám tin tưởng người lạ như thế, lỡ họ gạt mầy đem bán mầy và cả cái xe mất tiêu thì sao ?…cái con nhỏ nầy…

Má tôi cũng lo lắng không kém:

– Chắc là con còn phước báu nên mới thoát ra được chứ con nhỏ đó chắc không phải thuộc loại người đàng hoàng đâu, có thể nó chỉ là “cò mồi” đi dụ dỗ con người ta về cho đồng bọn nó…

Tôi cười với má:

– Có lẽ vậy má à… nhưng con cũng tin tưởng ở Trời Phật nữa. Nếu như mình luôn luôn đối xử tốt với mọi người thì cũng có khi cảm hóa họ trở thành người tốt với mình…

– Ờ… nhưng con cũng đừng có dễ ngươi lắm mà có ngày ân hận. Con gái lớn rồi, đi đâu đừng có la cà…

– Dạ, con biết rồi…má dạy con luôn đối xữ tốt với mọi người mà…

Tuy nói thế nhưng tôi cũng cãm thấy mọi chuyện không đơn giản như tôi nghĩ, bỡi có những sự việc ta tưởng như đơn giản mà thật ra không đơn giản chút nào, giá như cô gái ấy không còn nhất đáng lương tâm thì giờ nầy không biết tôi đã ra sao nữa. Khi tôi kể chuyện ấy cho người yêu tôi nghe thì anh ấy chỉ cười và bảo:

– Có lẽ cô ta thấy em “ ngu” quá nên tha cho đó. Từ rày hãy nhớ lời khuyên của cô ấy, đừng có dại dột mà “tốt bụng” như thế nữa nhé…

Khi chúng tôi lập gia đình được một năm thì cũng là lúc đất nước thay đổi cục diện chính trị. Hai miền Nam Bắc không còn bị chia cắt nữa. Miền Nam được giải phóng hoàn toàn không còn lệ thuộc chế độ tư bản chủ nghĩa nữa mà cả ba miền đều được thống nhất dưới chế độ cộng sản, xã hội chủ nghĩa. Đối với tôi đó cũng là niềm vui vì mọi người được gặp lại người thân của mình sau hơn ba mươi năm trời không gặp nhau vì đất nước bị chia cắt. Các cậu tôi, bác tôi, anh chị em con dì, con chú, con bác… đi tập kết trở về sau những năm biền biệt không hề có một lá thư hay một tin tức gì gửi về cho người thân… bây giờ gặp lại nhau mừng mừng, tủi tủi…ai cũng khóc vì…vui. Có những gia đình còn nguyên vẹn gặp lại nhau , nhưng chỉ biết nhìn nhau nuối tiếc rưng rưng nước mắt vì ai cũng đã bạc phơ mái tóc, các con thì đứng nhìn cha lạ lẫm vì từ lúc sinh ra đến giờ có gặp mặt đâu, chỉ nghe mẹ hay bà kể về người cha vắng mặt… đau đớn nhất là những gia đình “xãy đàn tan nghé…ngày cha trở về cũng là ngày phụ tử tình thâm bị chia biệt…mẹ lấy chồng khác, con phải theo mẹ và người cha dượng lên đường rời khỏi quê hương, xứ sở sang xứ người định cư vì không quen với chế độ mới…đó là gia đình của cậu tôi, người cậu yêu quí mà cả gia đình tôi luôn nhắc nhở mỗi khi nghe tiếng bom rền vang ở nơi nào đó vọng lại, má tôi lại thắp hương cầu nguyện cho cậu được bình yên cho đến ngày trở về…bây giờ thì cậu cũng đã trở về và vết thương trong lòng cậu cũng tạm nguôi ngoai bỡi cậu cũng đã có một gia đình mới trông bề ngoài khá hạnh phúc. Má tôi và các dì cũng yên tâm, ai cũng lo bồi đắp cho gia đình cậu để đền bù những năm cậu vắng nhà…nói chung, những năm đầu giải phóng, có quá nhiều biến đổi : sự thay đổi chế độ kèm theo sự đổi mới toàn diện trên khắp đất nước về mọi mặt… mà sự thay đổi nào cũng được xây trên cái nền rạn nứt, đổ vỡ của cái cũ…cho nên, những thành viên trong đó đều cãm thấy hụt hẫng, nuối tiếc một cái gì đó đã mất. Sự nuối tiếc đó cũng giống như người ta đánh vỡ một món đồ cổ bằng sứ, tuy giá trị món cổ vật không đáng là bao nhưng cái giá trị tinh thần của nó thì không thể so sánh với bất cứ món hàng mới nào…

Cái gia đình nhỏ bé của chúng tôi chỉ mới được hình thành không bao lâu, tôi sắp sinh đứa con đầu lòng, tình hình cả nước lúc ấy thật là bất ổn…sự giao thời giữa hai chế độ củ, mới làm cho chúng tôi, những người mới ra riêng, mới ra trường thật sự không biết phải đặt chân đặt tay vào đâu vì tình hình lúc đó chưa ổn định, ai cũng âm thầm lo sợ chế độ mới không hợp với mình, sợ mình không có một chỗ đứng tương thích trong chế độ mới, sợ chế độ mới không dung chứa người của chế độ củ..vv.. và ..vv… nhưng thực tế là miếng cơm ,manh áo mà chúng tôi là người phải trực tiếp tự giải quyết cho chính mình trước khi nhà nước có chế độ cụ thể cho cả nước… tôi lúc ấy hãy còn ở chung với gia đình nhà chồng, ông xã tôi thì mỗi ngày tham gia ở ngoài ủy ban để mong nhà nước bố trí cho một công ăn việc làm phù hợp với khả năng. Ngoài việc tham gia các hoạt động văn hóa tích cực cùng với các công tác phong trào như : xóa mù chữ, xóa các tệ nạn, xóa đói giảm nghèo cho dân…( trong khi bản thân mình cũng nghèo không kém gì họ), tuy nhiên đó là công tác địa phương mà ai còn trẻ cũng phải tham gia để gọi là có đóng góp công sức của mình cho xã hội, cho đất nước…Nhà tôi cũng tham gia hầu hết các hoạt động ấy, anh đăng kí dạy lớp xóa mù chữ buổi tối, bỡi anh cũng từng là giáo viên tư nhân dạy giờ khi hãy còn là sinh viên, cho nên việc dạy học đối với anh không có trở ngại gì, đó cũng là công việc anh rất yêu thích. Anh còn đi quyên góp, phân phát gạo cho các hộ quá nghèo trong xóm, đi dán bích chương chống tệ nạn ma túy cùng với các anh em trong xóm vào những lúc rỗi rảnh… tôi lúc ấy chỉ biết ở nhà chờ đợi sinh con, vì bác sĩ bảo tôi sắp đến ngày sinh… tôi thường xuyên về nhà ba má mình ở đường Bà Hạt để má tôi hướng dẫn những chuẩn bị cần thiết khi sinh em bé. Ngày con tôi chào đời là lúc o giờ ngày 7 tháng 5 năm 1975, sau ngày giải phóng Sài Gòn đúng một tuần lễ. Tôi được nằm lại bệnh viện phụ sản Hùng Vương một tuần lễ vì là sinh con so. Các bác sĩ, đa số đều đi nước ngoài nên chỉ còn lại một số y tá và các cô nữ hộ sinh trông coi bệnh viện cũng giống như các bệnh viện khác, tuy nhiên vì là bệnh viện công nên người nhà được quyền vào tự do để chăm sóc cho các bà mẹ và trẻ sơ sinh…Nằm một chỗ nhưng tôi vẫn được nghe tin tức hàng ngày nhờ vào chiếc loa phóng thanh gần đó: cứ năm giờ sáng là người ta phát loa gọi tất cả mọi người dậy để tập thể dục và sau đó là điểm báo và liên tục nhả nhạc kháng chiến vang lừng như để reo mừng chiến thắng vừa đạt được…Lúc đầu, tôi cũng hơi dị ứng với cái không khí dị thường đó nhưng nghe riết rồi cũng quen, mọi chuyện trở nên bình thường như trước. Tôi đang tập cho quen dần với những thay đổi bên ngoài cũng như bên trong bỡi có những đổi thay mà chúng ta không ngờ đến nhưng…nó vẫn đến một cách tự nhiên mà không hẹn trước bao giờ, “pháp nhĩ như thị”… không thể nào khác được cho dù chúng ta muốn hoặc không muốn thì nó vẫn cứ diễn ra như thế, …rồi chúng tôi ra riêng để tập “tự lực cánh sinh” cho gia đình của mình, con tôi lúc ấy vừa tròn một tháng rưỡi, hãy còn bé bỏng lắm… nhưng biết làm sao được…! khi ba má tôi đều đã hồi hương nếu không muốn bị buộc đi kinh tế mới. Gía như mà ba má tôi còn ở Sài Gòn thì chắc là tôi cũng đở vất vả hơn…rồi đứa thứ hai, thứ ba…ra đời trong hoàn cảnh không mấy sáng sủa đó …không đói lắm, cũng không thể gọi là no đủ bỡi đồng lương giáo viên quá ít ỏi chỉ đủ mua gạo bằng tem phiếu mà thôi, còn lại thì…tự mình bươn chãi, làm sao cho các con không đói là được, còn riêng mình thì…sao cũng chịu…tôi thường hay bị “hiệu trưởng” của mình chửi là “ chị cứ “chân trong, chân ngoài” như thế thì làm sao lo cho chuyên môn của mình được”?Nói chung, hiệu trưởng nói cũng đúng nên tôi làm thinh rút kinh nhiệm không dám tự biện hộ một lời nào cho mình…vừa đi dạy, vừa tham gia bán căn tin để cải thiện cuộc sống nhưng rồi tình hình cũng chẳng thay đổi được gì hơn, chỉ là cuộc sống tạm bợ cho các con được ổn định qua ngày…Thế thôi ! Ông xã tôi cũng thế, ngoài giờ đi dạy ra, anh ấy cũng phải chạy vạy khắp nơi để có đủ miếng ăn cho gia đình và thỉnh thoảng có chút đồng quà cho ông bà nội của các cháu ở gần đó…nào làm nước tương, làm giá, làm đậu hủ, làm các loại bánh mứt vv…vv…cái gì anh ấy cũng làm rất tốt, từ khâu dự tính cho đến ra thành phẩm nhưng cái “ mác” giáo viên làm cho khâu tiêu thụ bị khựng lại, thành ra rốt cuộc rồi việc gì cũng không xong, cũng chỉ là tạm thời mà thôi…không kéo dài được bao lâu vì đồng vốn quá ít ỏi…trong khi đó thì cuộc sống cứ tiếp tục chạy theo nhịp độ tự nhiên của nó…ngày một chóng mặt…

Một buổi sáng, tôi quyết định cầm cái áo lạnh đẹp nhất của mình ra chợ Sài Gòn định bán đi để mua gạo.Nhà hết gạo đã mấy ngày nay nhưng đồng lương ít oi cũng chưa có…thật đáng xấu hổ…! nhưng rồi, tôi cũng cố dẹp lòng tự ái để không cho ông xã tôi biết điều đó, một mình đi giải quyết vấn đề cơm áo cho các con. Lúc ấy, ở bên cạnh chợ Sài Sòn xa hoa lộng lẩy kia còn có một khu vực “chợ trời” hình thành tự nhiên do nhu cầu của những người không làm khu vực ăn lương nhà nước. Họ sống và buôn bán với nhau đủ mọi mặt hàng, phần nhiều là hàng củ đã xài rồi nhưng có người cần dùng là có người tìm hàng bán ngay theo giá cả không dựa vào đâu hết, nhưng ai cũng chấp nhận mặc nhiên không hề thắc mắc…tôi cũng đi ra đó để giải quyết vấn đề của mình…tôi đi ngẫn ngơ như người mất hồn bỡi chưa bao giờ tôi phải đi chợ trong tâm trạng như thế. Tôi nhìn ngắm mọi người mua mua, bán bán mà không biết làm sao để mở lời…một người phụ nữ trung niên nắm tay tôi kéo lại, đon đả:

– Có gì bán không em ?

Tôi như được tiếp sức, nhìn chị ta vui vẻ, miệng ấp úng:

– Chị có mua áo lạnh không ?

– Mua chứ, đưa đây cho chị xem nào…

– Bao nhiêu?

– Hai chục ngàn…

– Mắc vậy? Năm ngàn thôi, chị đưa tiền ngay, chịu không?

– Mười ngàn, tôi lấy…

Một người phụ nữ khác, có vẻ lam lũ cầm lấy cái áo ngắm nghía rồi nói:

– Đấy là tôi mua để xài chứ bạn hàng không lấy giá nầy đâu…

Vừa nói, chị vừa móc túi lấy tiền dúi vào tay tôi. Tôi còn đang phân vân chưa muốn bán vì tiếc cái áo mới tinh chưa mặc lần nào, miệng kỳ kèo giá cả:

– Không được đâu chị, chắc giá hai chục ngàn tôi mới bán…

Một cô gái cũng trạc khoảng tuổi tôi, dáng điệu nhanh nhẩu, lanh lợi từ bên kia đường băng qua, tước lấy cái áo từ trong tay của người phụ nữ đang trả giá, rồi quay sang tôi tươi cười:

– Để tôi lấy cho…

Vừa nói cô ấy vừa cầm cái áo của tôi chạy sang bên kia đường, tôi chưa kịp mừng vì có người đồng ý mua cái áo theo giá mình muốn bán thì người phụ nữ đứng kế bên đã thích vào tay tôi:

– Chạy theo mà lấy tiền, coi chừng nó chạy mất đó…

Tôi đứng ngẫn ngơ nhìn theo cô gái rồi nhìn người phụ nữ:

– Các chị không phải cùng bạn hàng với nhau à? Thế còn cái áo của tôi…?

– Thì đi kiếm cô ta mà lấy tiền…

Vừa nói họ vừa nhìn nhau cười bí hiểm rồi mỗi người lãng đi một nơi. Tôi lúc ấy có điên mới không nhận ra mình vừa mới bị một cú lừa ngoạn mục. Tất cả bọn họ “một đồng một cốt”với nhau, chỉ có tôi là cô học trò mới vào lớp ở cái “trường đời”mênh mông nầy… tôi chỉ hơi tiếc cho họ vì rằng họ đã đánh đổi nhân cách của mình quá rẻ, chỉ đáng giá bằng một cái áo cũ … thì thật là đáng buồn cho kiếp người của họ ! Tôi lững thững đi bộ về nhà vì ngay cả hai ngàn đi xe bus cũng không có, vừa đi vừa gậm nhấm nỗi đau của riêng mình và của cả kiếp người không đầy một trăm năm… vậy mà phải tạo nghiệp quá nhiều…để rồi cứ luôn vướng víu mãi vào cái “nghiệp chướng nặng nề, si mê lầm lạc” ấy mà không biết đến bao giờ mới thoát ra được…?!

Một lần khác nữa, tôi đi lang thang ở chợ Nguyễn Tri Phương để tìm mua một xấp vải đen may quần tây, với đồng lương giáo viên thì làm gì có đủ để mà mua vải tốt nên tôi cố đi tìm một một loại vải nào đó hơi rẻ một chút miễn là để có thể tự tay mình cắt may một cái quần như ý muốn là được… tôi đi tìm mãi lòng vòng qua biết bao nhiêu hàng nhưng cũng chưa mua được vì mắc quá… tôi cứ đi hết hàng nầy đến hàng khác chỉ để xem mà thôi…rồi bỗng nhiên có một bà cụ đến làm quen với tôi, nhìn bà cười móm mém, tôi bỗng có thiện cãm. Bà cụ hỏi tôi:

– Cô tìm mua hàng gì thế? Đã mua được chưa ?

– Dạ chưa, cháu định mua một xấp vải để may quần tây nhưng chưa mua được

Bà cụ có vẻ do dự một chút rồi bảo tôi :

– Nầy, tôi có một xấp vải quần của các cháu cho nhưng tôi không dùng, hay tôi bán cho cô nhé…

– Dạ…bà cho cháu xem thử

Bà cụ lấy trong giỏ ra một xấp vải quần tây màu đen như ý tôi đang tìm, bà vừa đưa cho tôi vừa bảo :

– Của cháu tôi được phân phối ở cơ quan, nó cho tôi bảo tôi không dùng thì bán đi lấy tiền xài, cô cần thì tôi để rẻ cho…

Tôi mừng lắm nhưng còn e ngại sợ mình không đủ tiền mua. Thấy tôi ngần ngừ, bà cụ bảo:

– Cô đừng ngại, tôi để rẻ cho mà…

Bà cụ cho một cái giá mà tôi có thể lấy được xấp vải, tôi mừng lắm, bèn đưa tiền cho bà rồi cầm xấp vải cất vào giỏ, tôi dợm bước đi sau khi nói cám ơn bà, bà cụ bảo tôi đưa đây bà gói lại cho, tôi chưa kịp đưa thì bà đã nhanh tay nhón lấy xấp vải rồi đưa lại cho tôi gói vải đã đuợc bà gói gọn gàng, xinh xắn…rồi bà cụ rảo bước thật nhanh, không một lời từ biệt. Tôi cũng hơi lưu ý điều đó một chút, nhưng cũng chẳng buồn suy nghĩ xem tại sao thế ? rồi tôi vui quá lấy sắp vải ra mân mê định xem lại , nhưng tôi chợt khựng lại… niềm vui chưa kịp trọn vẹn tôi bỗng nhận ra có điều gì đó là lạ… xấp vải trên tay tôi sao mà nhẹ hẫng, lù xù như một mớ bòng bong, tôi nhíu mày quay tìm bà cụ bởi trực giác cho biết mình đã bị lừa nhưng…bóng dáng bà cụ đã mất hút, tôi run run mở gói hàng ra xem thì…ôi thôi…! Đúng là tôi đã bị lừa, xấp vải trên tay tôi không còn là xấp vải quần tây hồi nãy tôi được bà cụ năn nỉ bán rẻ cho, mà là một cái quần đen củ rách bươm, tả tơi như bị chuột cắn… tôi đứng chết lặng, lòng đau đớn như bị ai đó lấy kim châm vào tim mình vậy, tôi đau không phải vì bị mất mấy chục ngàn đồng mà vì bị…mất lòng tin ở con người, nhất là người đó lại là người ở vào cái tuổi đáng kính trọng nhất…tại sao bà cụ ấy lại nỡ phụ lòng tin của kẻ chỉ đáng tuổi con cháu của mình? giá như mà bà đi xin thì còn có người cho tiền nhiều hơn thế nữa mà, sao lại đi gạt gẫm mọi người để có được đồng tiền bất chính như thế?Tôi đứng tần ngần giờ lâu rồi lặng lẽ trở về nhà với cõi lòng nặng trĩu ưu phiền…có những bài học ở trường đời làm cho ta khôn ra nhưng đáng buồn là nó lại làm cho lòng từ bi của ta bị hao mòn, thật khó để giữ cho tâm mình không bị những cảnh đời như thế làm ảnh hưởng đến tâm từ của chính mình. Tôi nghĩ như thế, rồi kể từ hôm đó…tôi thường có những cái nhìn không mấy thiện cảm đối với những bà cụ mà tôi chưa có dịp tiếp xúc, tôi cũng biết là mình không nên “quơ đũa cả nắm” nhưng tôi rất tiếc cho người đã làm mất lòng tin của tôi… và đối với tôi như thế cũng là đã phạm tội rồi !

Buổi chiều cuối tuần, sau khi dạy xong hai tiết văn tôi đạp xe thong thả dọc theo con đường khá vắng vẻ bên hông chợ An Đông. Tôi muốn tìm chút thư giản sau những giờ phút căn thẳng vì cơm áo, gạo, tiền… nói chung, thì rất hiếm khi tôi có thì giờ để rong chơi đây đó cho đúng nghĩa, bỡi vì con mọn ba đứa, ngoài thì giờ đi làm ra, tôi còn phải lo mọi chuyện trong gia đình: từ việc chợ búa, nấu nướng, cơm nước, giặt giũ, cho các con ăn, tắm rửa… cho đến dạy cho chúng học, đứa lớn thì làm bài, đứa nhỏ cũng chuẩn bị học đánh vần và cho chúng đi ngủ, đó là công việc hàng ngày của tôi mà không ai có thể thay thế được, ngay cả khi nếu như ông xã tôi giàu có, có thể mượn người giúp việc cũng thế…và tôi cũng nghĩ đó là thiên chức mà không phải ai cũng có được, cho nên dù cực nhọc dến đâu tôi cũng cho đó là niềm vui, là niềm hạnh phúc của riêng mình…chiếc xe đạp cọc cạch lăn bánh chầm chậm cũng như đầu óc lan man của tôi lúc bấy giờ; tôi nghĩ ngợi lung tung hết chuyện nầy đến chuyện khác…giá như…giá như…biết bao là từ giá như…chạy trong đầu tôi cũng chỉ vì muốn tìm ra cho mình một con đường sáng sủa hơn để lo cho các con được sung sướng hơn, có tương lai hơn hiện tại…ông xã và tôi cùng là giáo viên thì tuy là đồng lương ổn định nhưng ở cái thời buổi chuyển tiếp nầy, đời sống khó khăn quá đi cho nên ngoài việc dạy học ra, chúng tôi vẫn phải chạy vạy khắp nơi để lo cho các con mà không phải làm phiền đến gia đình. Tôi vẫn thường bị hiệu trưởng phê bình là “chân trong, chân ngoài” và không bao giờ đạt được danh hiệu “tiên tiến” bởi ngày giờ công không cao…chỉ vì mỗi khi các con đau thì mẹ lại phải xin nghỉ để ở nhà để chăm sóc cho con, nên dù có cố gắng đến đâu tôi cũng chỉ đạt được danh hiệu “ giáo viên không bỏ nghề” mà thôi. Đột nhiên, từ phía sau lưng tôi một chiếc xe gắn máy vượt lên, ép sát… tôi hết hồn lách tận vào lề rồi dừng lại, chút xíu nữa là toi mạng..! Tôi định hồn nhìn theo hai người thanh niên chở nhau chạy bạt mạng bất kể mạng sống của người khác kia, và tôi cũng vừa thoáng thấy một vật gì đó văng ra từ hai người rơi xuống lề đường, còn chưa hoàn hồn vì diễn tiến quá nhanh của tình huống đầy kịch tính ấy, tôi nghe tiếng một người phụ nữ từ phía sau trờ tới :

– Chị ơi, chị xem chừng để em xuống lượm xem chúng làm rơi cái gì kìa…

Vừa nói cô gái vừa trờ tới để xe đạp bên lề đường rồi chạy đến lượm gói giấy lên, mở ra xem, cô ấy cũng đưa cho tôi xem. Không thể tin vào mắt mình nữa : trong gói giấy là những chỉ vàng chói lọi, mới nguyên như vừa mới mua ở tiệm vàng nào đấy. Không hiểu sao tôi đột nhiên run rẫy như bị điện giật. Có lẽ là xúc cảm tự nhiên khi thấy của cải từ trên trời rơi xuống chăng? Không biết nữa nhưng tôi run thật sự và nhìn cô gái ngẫn ngơ khi nghe cô ấy nói:

– Chị ơi, như vậy là trời cho bọn mình rồi, nếu họ có trở lại chị đừng nói cho họ biết là em đã lượm được nhé, tụi mình sẽ chia đôi…

Cô gái chưa nói hết lời thì từ xa hai thanh niên chạy xe gắn máy lúc nảy đã quay trở lại, rồi họ đảo xe mấy vòng như tìm kiếm một vật gì vừa đánh rơi, tôi nhìn cô gái định bảo cô ấy trả lại nhưng cô ấy đã nắm tay tôi dằn lại không cho. Hai người thanh niên nhìn chúng tôi dò xét:

– Lúc nãy tôi có đánh rơi mấy chỉ vàng, hai cô có lượm được cho xin lại…

Cô gái nhanh nhẩu:

– Không có đâu anh ơi, bọn em vừa đi tới, lúc nãy em thấy ông xích lô lượm được gói gì đó, ông ấy rẽ ngõ đằng kia kìa….

Nhìn theo tay cô gái chỉ, hai gã thanh niên có vẻ bán tín bán nghi nhưng không làm sao được bèn nói với cô gái trước khi bỏ đi:

– Nầy, vàng ấy chúng tôi mới mua ở tiệm ra, đã có đánh dấu rồi, nếu như hai cô có lượm được thì cho xin lại chứ nếu đem bán ở bất cứ tiệm nào cũng sẽ bị phát hiện ra đó…

Cô gái vẫn một mực không nói gì, còn tôi cứ đứng như trời trồng, đầu óc quay cuồng…hai gã đàn ông rồ máy xe vọt đi cũng nhanh như khi đến. Cô gái nắm tay tôi kéo sang bên kia đường vừa nói:

–Đi chị… chúng ta chia nhau, hắn không biết đâu…

Tôi vẫn còn run không nói được câu gì, nhưng đột nhiên trong đầu óc u mê của tôi lúc đó nảy ra một ý nghĩ: tại sao cô ta nhặt được vàng mà không hưởng một mình lại cứ nằng nặc đòi chia cho tôi? Rồi tôi nhớ lại có lần tôi đã đọc được một mẫu tin cảnh giác trên báo công an, bọn xấu đã lợi dụng lòng tin và sự nhẹ dạ của mọi ngừơi để thực hiện trót lọt mọi hành vi lừa đảo tinh vi của chúng… tôi chợt run lên với phát hiện nầy, nếu như chúng là đồng bọn với nhau, có nghĩa là tôi đang gặp nguy hiểm, chúng định làm gì đây…? Tôi nhìn cô gái, cô ta vẫn thản nhiên nắm lấy tay tôi như chỗ thân tình:

– Đi chị…hình như hồi nảy chúng có bảo là vàng nầy đã có làm dấu rồi, chúng mình không thể đem bán sợ bị phát hiện, hay là chị đưa em một số tiền tương đương, còn chị cầm hết số vàng nầy…

– Nhưng tôi đâu có dủ tiền để lấy số vàng nầy…

– Vậy…chị có bao nhiêu cũng được, em chịu lỗ cho…

Tôi ngần ngừ:

– Tôi chỉ có chiếc nhẫn cưới đang đeo trên tay đây…còn tiền thì chẳng đáng là bao…

Cô gái nhanh nhẩu:

– Cũng được…chị cứ đưa cho em và cho em địa chỉ, còn thiếu bao nhiêu mai mốt em đến nhà lấy…nhanh nhanh rồi mình đi chị… kẻo chúng trở lại…

Tôi đã có nghi ngại trong lòng nên càng thấy thái độ của cô ta đáng nghi hơn nhất là sự sốt sắng và tử tế quá đỗi của cô ấy, tôi chợt run lên khi nghĩ đến hai gã kia có thể vòng lại bất cứ lúc nào, nếu như chúng thấy đồng bọn của chúng không dụ dỗ được tôi thì không biết chuyện gì sẽ xãy ra…kinh nghiệm đọc báo công an khiến cho tôi càng cảnh giác hơn. Tôi quyết định tức khắc không do dự:

– Vàng nầy của chị lượm được…thôi thì chị cứ giữ lấy, tôi không muốn chia của chị đâu…chị yên tâm, nếu như bọn chúng có trở lại…tôi cũng không nói là chị đã lượm của chúng đâu…

Rồi, không cần nghe câu trả lời của cô gái, tôi lên xe đạp chạy thẳng một nước ra đường lớn, nơi có đông người hơn mà tim hãy còn đập thình thịch như sợ bọn chúng phát hiện ra mình đã nhìn thấy “chân tướng” của chúng…

Hai hôm sau tôi đọc thấy một mẫu tin trên báo công an. Câu chuyện diễn tiến y hệt như chuyện tôi đã gặp, nhân vật nữ là một cô giáo, sau khi trao đổi vàng với tiền xong, về nhà cô mới biết số vàng đó đều là vàng giả mà bọn lừa đảo đã cùng nhau lên kế hoạch đi gạt gẫm mọi người, đã rất nhiều người bị chúng gạt lấy hết tiền, vàng cũng vì lòng tính toán, so đo và tham lam…tôi cũng suýt bị cuốn vào cơn lốc đó nếu như tôi không kịp suy nghĩ, nếu như tôi bị lòng tham cuốn hút vào… Khi tôi kể lại cho các con và ông xã tôi nghe, các con tôi nhao nhao lên:

– Mẹ hay quá, nhờ mẹ đọc báo công an thường xuyên nên mẹ mới có tinh thần cảnh giác đó, chứ nếu không… mẹ cũng bị rồi, ai mà chẳng thích vàng, nhất là của trời cho, đúng không mẹ…?

Chúng nhìn tôi cười ý nhị, riêng ông xã tôi lừng khừng bảo:

– Tại mẹ mầy không có gì để trao đổi với chúng, chứ nếu…

Anh im lặng nhìn ngón tay tôi có đeo chiếc nhẫn cưới, còn tôi thì cười xòa hiểu ý anh muốn nói gì, bởi chiếc nhẫn của tôi đeo cũng chỉ là chiếc nhẫn giả mà thôi…!

Trường đời thì quá rộng lớn… gần như vô hạn, vô biên… mỗi con người là một học viên ở trong đó. Những bài học đều khác nhau, bởi giáo viên cũng là học viên, họ tuần tự, luân phiên nhau lên lớp, thay đổi vai trò… khi là thầy cô, khi là học sinh ở trong cái trường đời mênh mang của cõi người nầy. Bài học nào cũng đáng giá bởi nó đã được soạn bằng tất cả tim, óc, máu xương… của cả một kiếp người- tôi nghĩ thế- Chỉ để duy trì cái sinh mạng phù du, hư ảo nầy mà con người đã làm không biết bao nhiêu việc… tốt, xấu, thiện, ác…v..v… và tùy theo tâm niệm của mỗi người khi thực hiện hành vi ấy mà kết quả thưởng hay phạt sẽ luôn đi kèm theo sát họ không khi nào rời…tôi đọc thấy ý tưởng ấy qua bài thuyết giảng của vị chân sư khả kính trong một tờ tạp chí Phật Gíao…

Cho đến bây giờ, nếu như tôi có dịp gặp lại những người ấy, tôi vẫn sẽ giúp đở họ tận tình nếu họ cần tôi, cũng như tôi đã từng giúp những người khác, tôi cũng không hề giận, ghét những người đã gạt gẫm tôi mà chỉ thấy thương cho sự bất hạnh của họ vì đã không có được hoàn cảnh tốt đẹp hơn để sống cho chân chính, và nếu như có làm được việc gì thiện lành tôi đều xin hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh trong pháp giới nầy đều được hưởng phước báu nhau…

VÂN HÀ (TTHA)

Friday, October 13, 2023

SÓNG GIÓ GIÒNG ĐỜI

SÓNG GIÓ GIÒNG ĐỜI

Năm 1954, gia đình tôi rời miền quê Cần Thơ để lên thành phố sinh sống. Năm ấy tôi chỉ mới lên sáu hay bảy tuổi gì đó nhưng tôi nhớ rất rõ là ba tôi đã phải vất vả lắm mới đưa được cả nhà lên thành phố. Ở nhà quê tình hình bất an, má tôi thường xuyên một mình chạy vạy với lủ con sáu đứa chẳng biết làm gì ngoài ăn, ngủ, học,… còn ba tôi thì thường xuyên vắng nhà vì đi theo kháng chiến chống thực dân Pháp. Thỉnh thoảng ba cũng dắt tôi theo vào tận trong chiến khu nơi ba làm việc. Cái trí nhớ lúc năm hay sáu tuổi gì đó của tôi thật là mù mờ. Cố lắm tôi mới còn nhớ được chổ đó là một tòa nhà màu trắng ở giữa một khu vườn ruộng vắng vẻ. Ba tôi lúc ấy có lẽ là trưỡng nơi đó hay sao mà tôi thường thấy các cô chú đến báo cáo mọi việc. Lúc ăn cơm không dùng đủa chén như ở nhà mà dùng dĩa và cầm muỗng, nĩa để ăn.Tôi cảm thấy ngồ ngộ làm sao nhưng không dám hỏi ba. Khi ba làm việc tôi chỉ biết chạy chơi thơ thẩn gần đó. Không ai ngăn cản tôi cả, tôi muốn đi đâu thì đi miễn là quanh quẩn gần đó, vả lại còn đi đâu được nữa khi mà chung quanh chỉ toàn là ruộng đồng và đầm lầy… có lần tôi lang thang xuống bếp, nhà bếp rộng lắm, có tới mấy gian, tôi chạy hết phòng nầy đến phòng khác, có một phòng hơi tối, tôi tò mò đi ngang và nhìn vào thấy dưới gầm giường có rất nhiều người bị trói hai tay đang chen chúc trong ấy. Thấy tôi đi ngang qua họ ra dấu vẫy tay nhưng tôi sợ không dám đến gần. Một vài cô chú dưới nhà bếp lấy cho tôi mấy trái chuối rồi bảo tôi ra chỗ khác chơi. Đó là những hình ảnh mà tôi còn nhớ nhiều nhất những khi theo ba ra chỗ ba làm việc. Mãi sau nầy khi tôi kể lại cho má tôi nghe, má mới nói với tôi những người đó là thực dân Pháp bị nghĩa quân bắt. Lúc đó, tôi hãy còn bé quá để hiểu thế nào là lòng yêu nước, lòng căm thù giặc, tôi vẫn còn chưa được cắp sách đến trường kia mà… sau đó má tôi cũng có cho tôi đến học ở một ngôi trường làng gần nhà nhưng chẳng được bao lâu thì lại phải thay đổi chổ ở, lại nghỉ học để đến một chỗ ở mới… gia đình tôi thường xuyên thay đổi chỗ ở như thế vì phải theo ba, mà ba thì cũng thay đổi nơi công tác luôn luôn… có lần má kể cả nhà về thăm ngoại, đến khi trở về thấy nhà mình bị đốt cháy cũng không dám nhìn, má âm thầm lặng lẽ dẫn các con tìm nơi khác tạm lánh để đợi ba về, rồi từ đó theo ý ba, cả nhà phải ở dưới một cái thuyền rày đây mai đó, vừa theo ba vừa có thể tránh những nơi bọn giặc Pháp ruồng bố nghĩa quân. Tuy vất vả, khó khăn như thế nhưng đến nơi nào ba cũng cho các con đến trường học ở nơi đó, có nơi học được trọn năm, có nơi chỉ học có vài tháng rồi lại phải giong thuyền sang bến khác vì nơi đó giặc ruồng bố nhiều quá không thể ở lâu được… Mỗi khi ba đi công tác thì má ở nhà lo cơm nước cho chúng tôi và buôn bán lặt vặt với các ghe xuồng chung quanh để ba không phải lo lắng nhiều, cuộc sống cứ thế lặng lẽ trôi… Nếu như chiều hôm đó chúng tôi không chứng kiến cái chết thảm thương của một người anh rễ trong họ, con dì Bảy, chị của má tôi : lập gia đình được hai năm, có hai con một trai một gái, anh và chị họ tôi sống hạnh phúc bên nhau không được bao lâu thì biến cố xãy ra… là nông dân nên anh chị tôi cũng tằn tiện dành dụm cho gia đình mình được khá giả đôi chút. Buổi sáng hôm ấy anh đi Sài Gòn mua sắm cho gia đình một ít vật cần dùng : một cái tủ, vài cái ghế, bàn… mọi người ai cũng mừng cho gia đình anh. Khi anh ghé chơi, má tôi cũng mừng cho anh, vậy mà chỉ sáng hôm sau tin anh bị giết thảm thương đã làm mọi người bàng hoàng ngơ ngẫn. Trong trí nhớ lờ mờ của tôi lúc ấy chỉ là hình ảnh chị ngồi khóc bên cạnh vũng máu của anh đã khô đặc trên sân nhà, anh bị giết hồi đêm sau khi bị kết tội là việt gian và bị bỏ xác trên bè thả trôi sông… chị và gia đình phải chờ đến tối, sau khi không còn ai thăm hỏi nữa mới dám mượn người xuống cuối sông tìm xác anh vớt lên để chôn. Tôi còn quá nhỏ để có thể nhận định anh bị giết đúng hay oan, nhưng theo má tôi thì anh bị giết do lòng ghen ghét, tị hiềm, nhỏ nhen của con người, bỡi vì trong xóm anh được tiếng là người tốt bụng, thật thà… ai cũng yêu mến anh. Nên nếu không vu cho anh một cái tội nào đấy… thì khó mà không bị quần chúng lên án, có lẽ trong xóm, mọi người ai cũng biết thủ phạm là ai nhưng… với tâm lý của người dân thấp cổ bé miệng hay sợ hãi mọi thứ trên đời nầy thì biết chỉ để mà biết thôi chứ không ai có can đảm để vạch mặt chỉ tên kẻ “ lòng lang dạ sói” đó. Má tôi nói tuy là không ai tố cáo hắn nhưng luật nhân quả cũng không buông tha hắn đâu, quả nhiên, chỉ vài năm sau, hắn cũng bị kẻ khác giết chết thảm thiết y như anh rễ tôi. Có lẽ hôm ấy là ngày chị tôi vui nhất, sau đó chị giả từ vùng quê đau khổ đó để lên thành phố làm lại cuộc đời… Má tôi bàn với ba nên tìm cách sắp xếp lại cuộc sống để cho các con có nơi ăn, chốn ở ổn định và có nơi học hành đến nơi, đến chốn… không thể sống trôi nổi trên bến sông rày đây mai đó hoài như thế… có lẽ má tôi sợ hãi một bất trắc nào đó không lường trước sẽ xãy đến cho gia đình mình chăng ? chỉ biết là sau đó ba tôi nghe lời má xin nghĩ công tác một thời gian để lo ổn định cuộc sống gia đình. Thế là cả nhà chuẩn bị rời làng quê để lên thành phố sinh sống. Má tôi kể những ngày đó thật là cực khổ, nhưng vì tương lai của chúng tôi má nhất quyết rời bỏ làng quê nhiều bất trắc đó để có thể sống còn, để có thể bảo vệ được các con hãy còn qúa bé bỏng của má. Với hai bàn tay trắng, ba má dẫn sáu đứa con từ miệt vườn lên thành phố Sài Gòn lập nghiệp mà không biết tương lai sẽ ra sao ? Nhưng với quyết tâm bảo vệ các con, cho chúng có được những tháng ngày yên ổn cắp sách đến trường, không để chúng phải cực khổ vì sinh kế mà dỡ dang việc học, ba má tôi chịu đựng tất cả, không hề ta thán một lời miễn là các con vẫn được vui chơi và đến trường như mọi đứa trẻ khác là được…

Thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ – đối với tôi – cũng không khác ở quê là mấy, chỉ nhiều xe hơn một chút mà thôi, bỡi có những vùng còn vắng vẻ vô cùng, đi cả cây số cũng không gặp bóng người, chỉ có nghĩa trang là nhiều mà nghĩa trang nào cũng lớn, cũng rộng khiến tôi luôn sợ hãi nắm chặt tay ba mỗi khi có dịp đi ngang, có khi tôi còn nhắm tịt mắt lại suốt quảng đường phải đi qua đấy… những ngày mới lên thành phố, gia đình tôi phải tá túc nhà một bà dì, em mẹ tôi, hàng ngày, ba tôi phải đi bộ các nơi để tìm cho được một mãnh đất thích hợp với túi tiền không nhiều nhặn gì của ba má, cho nên, phải rất lâu, ba tôi mới tìm được một nơi như thế.Miếng đất đó nằm cạnh một con lạch nhỏ, sau nầy con lạch trở thành cái cống nho nhỏ phía trước nhà chúng tôi. Ba tôi, sau khi mua được miếng đất bèn lên kế hoạch xây cất, mà có phải mượn người, mượn thợ chi đâu, bỡi tiết kiệm, sợ tốn nhiều tiền thì không còn đủ chi phí cho vợ con nên ba quyết định tự xây cất lấy. Dì tôi kinh hãi, gợi ý là dì sẽ cho ba má mượn tiền để nhờ thợ xây cất nhưng ba tôi còn sợ nợ nần hơn nên không nhận và… thế là ba tự mua xi măng và cát để in lấy những viên gạch thô chất đống để dành dần… rồi cũng đến lúc đầy đủ nguyên vật liệu để làm nhà, bấy giờ ba mới mượn một người thợ cùng với ba dựng nhà, có sự trợ giúp của cậu Chín… anh của má tôi, chỉ là bốn bức tường vách và một cái gác xép nhỏ thế mà cũng mất hơn hai tháng mới xong. Dì tôi vừa chúc mừng vừa cười thán phục : – Tao sợ ba mầy luôn, chưa thấy ai gan lỳ như vậy, một mình mà dám xây cả căn nhà như thế trong lúc chẳng có bao nhiêu tiền… không biết có chắc không đây, đã vậy mà còn làm tàng không thèm mượn tiền của tao nữa…

Má tôi chỉ cười không nói nhưng má biết tánh ba, tuy ít nói nhưng rất thương yêu anh, chị, em và không bao giờ muốn làm phiền bất cứ ai, nếu như có phải nhờ vả là vạn bất đắc dĩ chứ việc còn có thể… là ba không bao giờ làm phiền người khác cho dù đó là anh, chị, em ruột của mình cũng vậy. Thế là gia đình tôi đã có được mái ấm của riêng mình, chấm dứt những ngày tá túc ở nhà dì. Ba tôi bấy giờ mới bắt đầu đi xin việc ở khắp mọi nơi, làm nhiều nơi những cũng chỉ là làm tạm để chờ một công việc khác ổn định hơn mà thôi, má tôi thì chẳng biết làm gì ngoài việc buôn bán lặt vặt để kiếm ít tiền chợ giúp ba trong giai đoạn còn quá khó khăn đó.Rồi má sinh thêm em trai, tuy không khá gỉa gì nhưng mỗi lần sinh thêm em, ba má đều vui mừng như được thêm của, tôi còn nhỏ quá để nhận ra nỗi khổ cực càng chồng chất thêm trên đôi vai vốn nặng oằn của ba má tôi… Hai năm sau, ba tôi xin được việc làm ơ Tổng Công ty điện lực thành phố, đó là ngày má tôi vui nhứt bởi như thế là ba tôi đã được công nhận là cư dân thành phố và gia đình tôi gần như có được cuộc sống ổn định hơn nhờ vào đồng lương công chức của ba.

Tôi phải học trễ một năm vì sự thay đổi đó của gia đình, ngày tôi vào trường công để học lại lớp hai cũng là ngày tôi có thêm một em gái, má tôi sinh thêm em thứ mười, sau nầy còn thêm hai em nữa : một trai, một gái… như vậy là chúng tôi có tất cả mười một anh, chị, em, nếu như chúng tôi không mất đi người anh thứ năm. Thật đúng là đại gia đình, má tôi không có thì giờ để lo cho riêng mình nữa, với ngần ấy miệng ăn thì còn thì giờ đâu để mà lo việc khác ngoài việc kiếm cơm, kiếm gạo cho các con. Ba tôi cũng vậy, chưa bao giờ tôi thấy ba đi chơi hay tiêu xài gì cho riêng mình. Cứ đến ngày lãnh lương là Ba đưa hết cho má để má mua gạo, mắm, muối… và mọi thứ thực phẩm khác cho gia đình chi dùng trong cả tháng, thỉnh thoảng dì tôi kéo gạo cho thì tháng ấy má mới có dư chút đỉnh để mua thêm cho các con bộ quần áo mới, thường thì chúng tôi phải mặc quần áo cũ lẫn nhau, cứ anh mặc chật là tới phiên em kế, riêng tôi là con gái nên được dì hay sắm cho, có khi dì soạn quần áo cũ của Đào, con gái độc nhất của dì, lớn hơn tôi vài tuổi, nên quần áo cũ của Đào tôi mặc cũng vừa, có khi hơi rộng một chút nhưng được cái còn rất mới nên tôi cũng thích. Cứ thế, chúng tôi sống bình yên bên nhau suốt những năm tháng ấu thơ hồn nhiên không nghĩ ngợi, lo lắng gì bởi mọi chuyện đã có ba má lo cả. Có năm Bình Xuyên đánh nhau với các đảng phái để tranh giành thế lực chính trị, không khí loạn lạc bao trùm cả thành phố, vậy mà ba má tôi cũng không trở về quê như một số người khác, vẫn bám trụ ở thành phố để cho chúng tôi không dở dang việc học… Năm ấy, tôi mới lên lớp năm, trường tiểu học Nguyễn Tri Phương là nơi tôi có nhiều kỷ niệm thuở đầu đời lên thành phố, học trường thành phố không như trường ở dưới quê tôi, mỗi lần đi học phải đi bằng xuồng, có khi lội nước cả mấy cây số mới đến lớp được… Ở cái thành phố nầy, tuy nhà tôi nghèo, đông con nhưng ba má tôi cũng vẫn nuôi chúng tôi ăn học chứ chưa bao giờ có ý bắt chúng tôi nghỉ học để phụ giúp gia đình cả.Trường học lại gần nên rất tiện cho chúng tôi, ba má không phải đón, đưa… giá học phí của trường tư thục cũng không mắc nên ba má tôi cũng cố gắng cho chúng tôi học đến nơi đến chốn, dù là chúng tôi thi rớt trường công, chúng tôi vẫn tiếp tục việc học ở các trường tư thục có rất nhiều trong thành phố… Lúc bấy giờ, chúng tôi vẫn chưa hiểu thế nào là vật lộn với cuộc sống để có miếng cơm, manh áo. Trong sự bảo bọc của mẹ, cha, chúng tôi gần như vô tư, chẳng biết gì đến những sóng gió của giòng đời mà ba, má chúng tôi hàng ngày phải đương đầu, để cho chúng tôi được sống hồn nhiên với tuổi thơ của mình… Thỉnh thoảng tôi cũng có nghe ba, má nhắc đến các chú, bác, anh, chị của người còn ở trong bưng, hoặc tập kết ra Bắc, nhưng đó chỉ là những câu chuyện rời rạc do tôi nghe lóm được những khi tôi trằn trọc không ngủ.Tôi hãy còn quá non để có thể hiểu được thế nào là chiến tranh ý thức hệ, thế nào là lý tưởng, thế nào là sống có niềm tin, thế nào là biết chọn cho mình một hướng đi theo chính nghĩa, chính đạo…. Nhưng có một điều tôi hiểu rất rõ là ba má tôi đã phải rất vất vả để nuôi chúng tôi bằng chính mồ hôi, sức lực của người, bằng chính cuộc kiếm sống chân chính trường kỳ gian khổ ở cái thành phố càng lúc càng đông người nầy… tôi cũng thường nghe ba má tôi nói với nhau là bây giờ “người khôn, của khó”, cho nên kiếm được đồng tiền chân chính không phải là dễ, để có thể nuôi được ngần ấy các con mà không một đứa nào phải chịu mù chữ hay học hành dang dở cả… Dạo ấy, Sài Gòn hãy còn là một thành phố nữa quê nữa tỉnh, có những vùng chẳng khác gì vùng quê đúng nghĩa, cũng có đồng ruộng, cây vườn, ao bèo, cũng có bò, ngựa đi rong trên đường, cũng có ao để mọi người câu cá giải khuây… nói chung, Sài Gòn dạo ấy hãy còn hoang sơ lắm. Nhà tôi ở đường Bà Hạt (bây giờ cũng vẫn còn mang tên ấy), khu xóm lao động có rất nhiều người mới di cư vào, họ từ miền Bắc vào Nam theo hiệp định GENEVE, không phải là một, hai người mà là cả một làng với từng gia đình có đầy đủ cả cha, mẹ, vợ, con, ông, bà… Họ đến ở phía sau nhà chúng tôi, có lẽ là họ được cấp nhà ở chung một xóm với nhau , đó là những người theo đạo Thiên Chúa , nên cứ chiều đến là xóm tôi rền vang tiếng đọc kinh cầu nguyện của cả cái xóm đạo ấy… có một điều rất buồn cười là cả xóm cùng làm nghề nấu đậu nành để làm tàu hũ cung cấp thực phẩm chay cho người theo Đạo Phật dùng, má tôi thường nói họ là sản phẩm của thực dân Pháp, bỡi vì họ đã được thực dân Pháp phát triển và ưu đãi rất nhiều… để có thêm tay sai đắc lực làm việc cho họ tại cái thuộc địa mới chiếm được ấy. Má tôi còn kể rất nhiều về tội ác của thực dân Pháp mà người Việt Nam chúng ta phải chịu đựng trong thời Pháp thuộc, theo Má tôi thì một trong những sai lầm lớn nhất của ông bà ta là nhượng bộ – một thái độ hòa hoãn tạm thời để bảo vệ con cháu khỏi họa diệt vong, trước bọn giặc Tây vừa mạnh về vũ khí vừa gian ác về thế lực chính trị là tạm thời thoả hiệp với chúng, cộng tác với chúng để chờ đợi một thời cơ tốt hơn mà quật khởi – Thế cho nên có những người đang làm việc với họ bị buộc phải theo Đạo Thiên Chúa, các nhà truyền giáo cũng nhân đó mà phát triển thêm tín đồ để lập công với tòa thánh Vatican, với bọn thực dân lúc nào cũng muốn chiếm thêm thuộc địa mà đằng sau chúng luôn luôn là cuộc thập tự chinh của tòa thánh Thiên chúa giáo, nói chung cũng chỉ là tham vọng của một số người muốn làm bá chủ hoàn cầu dưới chiêu bài tôn giáo mà thôi. Ông bà ta nghĩ rằng mình đã chọn được một giải pháp khôn ngoan để con cháu được sinh tồn nhưng có biết đâu rằng bọn con cháu ngu dốt kia không làm sao hiểu được ngụ ý của người, đã một lòng một dạ phò bọn thực dân và coi chúng như là người khai sáng, là tổ tiên thứ hai của mình, lại còn hãnh diện vì mình được làm thần dân của chúng nữa… Thật đáng buồn biết bao ! nhưng “ cái vòng kim cô” đã siết lại rồi, mà câu thần chú để gỡ nó ra là trí tuệ, là sự giác ngộ, ý thức được điều thiêng liêng mà tổ tiên ta đã gởi gắm qua những câu truyện truyền thuyết như một khẩu quyết để lại cho con cháu đó… chỉ tiếc rằng con cháu của người không phải ai cũng sáng dạ để có thể hiểu được mật ngôn ấy. Má tôi là một phụ nữ nhà quê mà còn nhìn thấy được điều đó, thì tôi nghĩ rằng các bậc thức giả của đất nước ta sẽ không đành lòng khoanh tay đứng nhìn đàn con cháu của mình càng lúc càng lún sâu vào tà đạo, càng lúc càng đi xa dần con đường chân chính của những người yêu nước,của ông bà tổ tiên … Những người di cư lúc bấy giờ đủ mọi thành phần, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi ngành nghề… thế cho nên cuộc kiếm sống càng lúc càng khó khăn, càng lúc càng khốc liệt, và cái hố chia rẽ do thực dân Pháp cố tình làm cho ba miền Bắc, Trung, Nam căm ghét nhau để dễ cai trị đã thành công mỹ mãn. Thậm chí, cho đến mãi sau nầy, các nàng dâu, chàng rể khác miền vẫn còn phải chịu ảnh hưởng độc hại ấy mỗi lần gặp thân tộc trong các ngày giỗ chạp… khéo lắm thì cũng có đến vài đứa con rồi mới được công nhận là người thân trong gia đình…

Năm ấy, anh hai tôi được lệnh gọi nhập ngũ để làm tròn nghĩa vụ của người trai trong thời chiến, rồi đến anh ba… má tôi rất lo lắng vì nhà nghèo quá không có của để lo cho các con như người ta, cũng không có ai quen biết để gởi gắm… ngày các anh lên đường, má chỉ biết khóc và thắp hương khấn nguyện Trời Phật cho các con được bình yên trở về. Tôi thường nghe má kể hồi má còn trẻ, tức là lúc anh hai tôi vừa mới chào đời, má đã phải theo ba chạy vào trong chiến khu, rày đây mai đó, má chứng kiến biết bao cảnh nát lòng do chiến tranh gây ra, chia ly, mất mát là chuyện xảy ra hằng ngày… má đã tiễn đưa không biết bao nhiêu là người thân chết trẻ, má đã an ủi những góa phụ còn xanh tóc trong đó có cả chị em của mình, thậm chí má còn khóc đến khô cả nước mắt vì các em cháu của mình chưa kịp hưởng chút đắng cay của kiếp người đã phải lìa bỏ người thân ra đi vì cuộc chiến càng lúc càng khốc liệt một cách vô lý… thế nhưng nó vẫn đang diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam đã bị chia cắt nầy, lúc ấy má chỉ biết mỗi tối thắp hương cầu nguyện Phật Trời cho cuộc chiến qua mau, cho những người đã hi sinh được siêu sinh Tịnh độ, cho những người chưa hi sinh đừng chết chóc nữa, cho cuộc chiến tranh sớm kết thúc… và cho các anh tôi khi lớn lên không phải ra đi vì cuộc chiến vô nghĩa ấy… bỡi vì, theo má tôi đó chỉ là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn mà thôi, cậu tôi, các anh em của má cũng còn đang tập kết ở bên kia sông Bến Hải, vẫn hàng ngày trông ngóng tin nhà một cách vô vọng, má tôi và các chị em trong nầy cũng thế, hằng ngày, luôn dõi theo tin chiến sự qua đài phát thanh để may ra biết chút tin tức gì của người thân đang ở ngoài ấy chăng ? nhưng làm sao mà biết được khi hai miền gần như mất liên lạc của nhau- bặt vô âm tín- đúng nghĩa là như thế, chỉ có chiến trường là nơi người ta dùng làm nơi gặp nhau cho cả hai miền… Những năm Hà Nội bị ném bom, má tôi gần như là lúc nào cũng thảng thốt, lúc nào má cũng ứa nước mắt lo cho những người thân còn đang ở ngoài ấy, xem ti vi cảnh ném bom, má tôi vừa che mắt vừa khóc, rồi má không xem nữa mà vào thắp hương trên bàn Phật cầu nguyện cho mọi người được an lành cho đến ngày đoàn viên… Lời cầu nguyện của má - của một người mẹ Việt Nam bình thường đúng nghĩa – luôn luôn hướng về các chú, bác, cô, dì, các anh, chị em, các con, các cháu của mình không phân biệt Bắc, Trung, Nam … không phân biệt Quốc gia hay Cộng sản…không phân biệt đảng phái, tôn giáo… dường như cũng động lòng Trời Phật nên cuộc chiến năm đó cũng có phần lắng dịu đi, tin vi phạm mỗi ngày không còn căng thẳng nữa, cuộc sống ở miền Nam có vẻ ổn định hơn. Má tôi bàn với ba nên mở một cửa hàng bán cơm để cho chúng tôi vừa có việc làm phụ giúp gia đình, vừa có tiền học phí mà không phải xin ba má… khi nghe má tôi nói như thế ai cũng cười chê má tôi là nhà quê, bán gì không bán ở cái thành phố nầy mà lại đi bán cơm, cơm thì nhà ai mà không có… nhưng dì Út tôi có vẽ ủng hộ má.

Dì bảo : – Má các con có lý đấy, tuy là ở thành phố, nhưng ai người ta cũng phải đi làm cả, cho nên họ rất bận rộn chuyện cơm nước, mình mở cửa hàng bán cơm là giúp cho người ta đỡ phải lo việc bếp núc, vả lại các con cũng đông và đều lớn cả rồi, có thể giúp má được nhiều việc lắm…

Rồi Dì vui vẻ nói thêm : – Nhất là… có cơm cho tụi bây ăn mỗi ngày mà không phải tốn tiền là quí rồi…

Thế là nhà tôi mở một cửa hàng bán cơm nho nhỏ trong xóm, bà con ai cũng thương nên ngày nào cũng rất đông khách… chúng tôi, sau anh hai, anh ba đã đi quân dịch, đứa lớn nhất là chị tôi, đứng bán hàng, lúc ấy cũng chỉ mới mười sáu tuổi, còn chúng tôi chạy bàn cũng chỉ là những đứa bé con lóc nhóc khiến ai nhìn thấy cũng phải phì cười, nhưng được cái ngoan ngoãn nên ai cũng thương và ủng hộ cho quán. Họ đặt tên cho quán là “ quán cơm Bà Mười” vì ở nhà ông ngoại má tôi đứng thứ mười mà… Sáng ra, má tôi dậy sớm đi chợ từ năm giờ khuya để mua được thức ăn tươi mà rẻ, vì giờ đó chỉ có những bạn hàng bán sỉ với nhau. Má thường đi chợ cá Trần Quốc Toản ( bây giờ là siêu thị Sài Gòn), nói là chợ cá nhưng cũng bán đủ mọi thứ như ở các chợ khác nhưng được cái rẻ hơn chợ khác rất nhiều… chúng tôi lúc ấy còn nhỏ quá, đâu biết thức khuya, dậy sớm để đỡ đần cho má, khi chúng tôi dậy là má đã vào bếp rồi, còn chúng tôi cũng chỉ biết lặt hành, lặt rau sơ sịa không đáng gọi là công việc… nhưng má vẫn để yên cho chúng tôi ngủ thẳng giấc không hề gọi đứa nào dậy sớm để đi chợ với má cả. Có hôm, má về rất trễ, chúng tôi hỏi má tại sao, má cười nói :

 - Hôm nay, má phải theo dõi một thằng nhỏ chuyên ăn cắp ở chợ cá…

Chúng tôi nhao nhao : - Rồi má có bắt được nó không ? - Được chớ, nhưng tao thả rồi… thấy nó cũng tội nghiệp quá…

Đó là thằng nhỏ mà mấy tháng nay thường xuyên lấy cá của má tôi , má biết vì thấy nó thường lai vãng đến gần những người đã mua cá còn để đó chưa về vội, vả lại má đã đếm số cá mua rồi, và thường là thiếu vài con khi đếm lại nhưng chưa bao giờ bắt được tại trận nên má cũng chỉ để ý xem chừng thôi. Tôi hỏi má : - Làm sao má bắt được nó phải nhận tội ? rồi má có giao nó cho cảnh sát không ?

Má tôi cũng chỉ cười : - Bắt được rồi cũng như không, tao thấy nó xách mấy con cá chạy trối chết, tao cũng chạy theo sau… - Má chạy theo về nhà nó hả ? - Không, đến một góc chợ, tao thấy nó mang cá về cho bà ngoại nó già lụm cụm, lại bị mù nữa, đang ngồi đợi ở đó, cũng có một vài người bị nó lấy cá nhưng họ cũng không làm gì nó, họ chỉ lấy cá lại thôi… - Còn má…? - Má cho nó luôn không lấy lại làm gì, tội nghiệp, chỉ có vài con cá thôi mà…

Má tôi thở dài không nói nữa nhưng tôi biết má lại cảm động ứa nước mắt nên nghẹn lời không nói được đó thôi. Má tôi là như vậy đó, không phải má chỉ thương các con của mình mà đối với bất cứ đứa trẻ nào, má cũng xem như con của mình vậy. Có những đứa trẻ bụi đời, đi đánh giày… má thường giúp đỡ chúng cũng như người thân, má cho chúng ăn cơm giá rất rẻ, hoặc có khi má không lấy tiền của chúng nữa, tôi cằn nhằn, thì má vỗ về : - Đừng như vậy, con. Chúng còn nhỏ quá mà đã khổ rồi, cũng vì quá nghèo khổ thiếu thốn, nếu như tụi bây ở vào hoàn cảnh tụi nó, thì cũng như vậy thôi. Má thương nó vì nghĩ đến các con… nếu các con ở vào hoàn cảnh đó… chắc còn khổ hơn nó nữa… - Chúng tôi, tất cả đều im lặng suy nghĩ về lời nói của má, đó là lời dạy dỗ thiết thực nhất mà chúng tôi thường xuyên nhận được ở má: mỗi một hành động, mỗi một lời nói, mỗi một cách hành xử,… má tôi đều nghĩ đến chúng tôi… và có đôi khi chỉ là một nụ cười, một cái nhìn khen ngợi, hay một sự im lặng chấp nhận… má tôi đã dạy dỗ chúng tôi rất nhiều, má đã cho chúng tôi biết thế nào là lòng trắc ẩn, biết thế nào là sự chia sẻ với mọi người trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống, biết cảm thông và chịu đựng… và nhất là biết yêu thương con người như chính người thân của mình.Ngày xưa má tôi đâu có được cắp sách đến trường như chúng tôi bây giờ, có chăng chỉ là được ông ngoại mời cô giáo đến nhà để dạy cho má và mấy dì biết đọc biết viết rồi thôi, vì quan niệm ngày xưa không cho con gái học nhiều, việc chính của má là nội trợ, một cái nghề không phải là nghề mà nó đã làm cho má bận rộn suốt cả ngày, suốt cả đời… cho nên, má tôi đâu có thì giờ để đọc sách, để học hỏi những tinh hoa của loài người được ghi lại trong sách vỡ bằng mớ ngôn từ lý thuyết mà con người chắt lọc để lại, nhưng tất cả những gì tốt đẹp mà má tôi có được đều do cuộc sống đem lại, đều do kinh nghiệm sống hằng ngày mà người luôn phải đụng chạm với thực tế, cùng với tình yêu thương chân thành mà ông bà ngoại đã truyền lại cho má… để giờ này má cũng truyền lại cho chúng tôi bằng cách đó… Cứ thế, chúng tôi lớn dần lên theo thời gian… nếu như giòng đời cứ bình thản trôi không có sóng gió, không có những đoạn quanh co, khúc khuỷu sình lầy, không có chướng ngại trên đường mưu sinh… thì cuộc đời sẽ đẹp biết bao nhiêu và… chúng tôi chắc cũng sẽ chỉ có những suy nghĩ hết sức đơn giản, hết sức bình thường về cuộc sống, về con người để rồi cứ tiếp tục sống như cây cỏ : hồn nhiên, vô tư, bình lặng… cho đến hết một kiếp người… Sáng hôm đó, có một người đàn ông tìm đến gia đình tôi, thật ra ông ấy dến tìm ba tôi thì đúng hơn. Ông ấy khoảng trên bốn mươi tuổi, dáng người tầm thước, nước da đen nhẻm có vẻ là người bôn ba ngoài cuộc đời nhiều hơn, ông ấy đi nhờ một cái xe tải dừng ở bên kia đường rồi đi tìm nhà tôi. Một người hàng xóm đã được hỏi thăm về người ông muốn tìm. Ông Tư Hổ à ? ở đây không có ai tên đó hết, rồi họ kể một lô tên của các người mà họ biết trong xóm, trong đó có ba tôi, ông Mười, thu ngân viên của tổng công ty điện lực Sài Gòn, bà Mười bán cơm, cùng một đàn con chín đứa rưỡi… lúc ấy má tôi bước ra cửa nhìn xem có phải là người quen không, chợt, tôi thấy má tái mặt đi, bước lùi vào trong nhà có vẻ sợ hãi. Tôi hỏi má : - Người quen của nhà mình phải không má ? - Không… không phải… chắc là má nhìn lầm…

Rồi tôi cũng không để ý đến nữa, khoảng vài hôm sau, khi tôi đi học về thì thấy chính người đàn ông đó đang ngồi nói chuyện với ba tôi trong nhà, tôi chào rồi lẳng lặng vào bếp làm phụ má, nhưng trong bụng cảm thấy bất an. Má tôi thì đứng ngồi không yên, hết ra châm thêm trà rồi lại lấy trái cây mời khách… má có vẻ bồn chồn : - Con vào nấu giúp má nồi canh, rồi chuẩn bị dọn hàng, nhớ những phần cơm tháng cho vào các “gào mên”cho xong để còn đem giao cho người ta nữa… - Dạ, má cứ yên tâm, để con làm cho…

Tôi chạy vội vào bếp nhưng mắt cứ thỉnh thoảng liếc xem thái độ của má, rồi vờ đi ngang để lắng nghe chuyện của ba và ông khách. Tôi chỉ nghe lỏm bỏm, rời rạc một vài câu xã giao : Anh dạo nầy khoẻ không ? cũng được, nhưng con đông quá, tôi chẳng giúp gì được cho chú đâu. Lo kiếm cơm gạo nuôi tụi nó không cũng đủ mệt rồi.Không sao, tôi chỉ nhờ anh cho phép thỉnh thoảng ghé anh chơi và cho tôi gởi một ít hàng, được không ? chú thông cảm giùm anh, nhà anh trống huơ trống hoác không kín đáo lắm đâu, vả lại ở trong cái xóm lao động nầy, bà con chòm xóm hay để ý, sợ không tiện cho hoạt động của chúng ta… tôi chỉ nghe loáng thoáng có thế, tuy không hiểu gì hết nhưng tôi cũng ngầm đoán ra việc ông khách nhờ ba tôi có thể gây nguy hiểm đến chúng tôi nên ba không nhận lời. Sau khi ông khách ra về, tôi thấy má nhìn ba hết sức lo lắng rồi nói nhỏ gì đó với ba nhưng ba không nói gì, lẳng lặng vào cái ghế bố thường khi nằm gác tay lên trán…

Tôi hỏi má về những điều đã nghe thấy, má ngạc nhiên nhìn tôi : - Con nghe cả rồi sao ? - Dạ, nhưng con không hiểu, ông khách có bà con gì với nhà mình không má ? - Không… đấy là ông Sáu Lành, là bạn của ba trong chiến khu, đúng ra ông ấy là cấp dưới của ba con, cái chỗ mà ba có chở con theo khi đi công tác đó… - À, con nhớ rồi, sao ông ấy gọi ba là ông Tư Hổ hả má ? - Thì ba con tuổi Dần, tên hiệu khi làm việc là Sơn Quân nhưng các bạn và những người làm việc với ba thường gọi là tư Hổ, riết rồi quen luôn… - Ông ấy tìm ba có việc gì vậy má? con thấy ba có vẻ lo lắng khi gặp ông ta… - Con còn con nít đừng để ý chuyện của người lớn, thôi ra giúp chị bán hàng đi con…

Tôi chạy ra ngoài bưng cơm cho khách cùng với các em mà trong lòng vẫn luôn nghĩ ngợi về ông khách lạ. Tôi không biết ông ta nhờ ba chuyện gì nhưng nỗi lo lắng của má tôi thì tôi biết, má vào nhà… lẳng lặng làm việc bếp núc của người nội trợ, cho đến một ngày kia, ba tôi đi làm rồi không về nữa… Buổi sáng, ba vẫn đi làm bằng chiếc mô bi lết xanh như thường khi, má đi chợ, chúng tôi đứa đi học, đứa ở nhà đợi má về chợ thì phụ giúp một tay, việc buôn bán cũng đã quen rồi nên chúng tôi không cảm thấy vất vả lắm, vả lại việc chính má đã làm hết nên chúng tôi cũng chỉ phụ công việc lặt vặt mà thôi. Sau lưng nhà tôi là các trại lính nối tiếp nhau: trại Triệu Đà, trại Nguyễn Tri Phương, trại Trần Nguyên Hãn… cho nên, đến giờ ăn là các chú lính chở nhau ra ăn cơm rất đông, có khi cả một xe nhà binh chở nguyên một đại đội… khi họ đỗ quân xuống là quán không còn một chỗ trống. Chúng tôi chạy bàn lăn xăn, một đám trẻ con tíu tít, lúc cười giỡn, lúc gọi nhau ơi ới, lúc cãi nhau chí chóe…làm cho các ông khách cũng bật cười không giận về việc chậm trễ hay bưng sai bàn…họ ăn rất chân tình mà má tôi cũng bán rất rẻ: một phần cơm chỉ có mười ngàn lại còn cho thêm ly trà đá và một trái chuối, còn cơm thì ăn thoãi mái không tính thêm tiền… Quán má tôi lúc nào cũng đông, khi nào hết chỗ ngồi họ mới đi sang quán khác…

Buổi chiều hôm đó, đã hơn sáu giờ rưỡi rồi mà ba tôi vẫn chưa về. Cả nhà đứng ngồi không yên, má tôi cứ ra cửa nhìn xem rồi lại trở vào bồn chồn như có linh tính ba gặp chuyện chẳng lành, nếu như có anh hai tôi ở nhà thì má đã bắt anh chạy xuống nơi ba làm việc để hỏi thăm rồi, thế nhưng chúng tôi, những đứa còn lại ở nhà còn nhỏ quá không biết gì nên má cũng không sai đi… một ngày, hai ngày, rồi ba ngày đã trôi qua mà tin tức về ba cũng không có , má tôi nhờ người quen biết các cơ quan chính quyền , đồn bót cảnh sát,… cuối cùng là các bệnh viện… cũng bặt vô âm tín. Nơi ba tôi làm việc cũng thế, họ bảo rằng ba tôi là người gương mẫu, làm việc rất chuyên cần, không bao giờ đi làm trễ, về sớm cả, lại hiền lành, tốt bụng nên ai cũng thương mến. Thấy má tôi đến tìm ba, họ xúm hại hỏi han đủ thứ và cũng lo lắng không kém nhưng cũng chỉ biết thăm hỏi mà thôi chứ không ai giúp được gì cả…Thế là ba tôi mất tích một cách đột ngột ở giữa cái thành phố Sài Gòn người khôn, của khó nầy… má tôi lúc đầu rất hụt hẫng, chúng tôi cũng thế, đang có một chỗ dựa hết sức vững chắc là ba tôi thì bỗng nhiên… cái cột trụ đó không còn nữa, bảo sao chúng tôi không hốt hoảng, chao đảo như người say rượu ? nữa năm trôi qua chúng tôi sống trong nỗi sợ hãi, lo lắng khôn nguôi, không biết giờ nầy ba đang ở đâu? Còn sống hay đã chết? Má tôi đã đi đến tất cả các đền miếu có tiếng là linh thiêng để cầu khấn, xin xăm, bói quẻ… ai cũng nói là tốt cả, không chết đâu… nhưng thực tế thì cũng chẳng có tin tức gì khả quan cả…rồi thì gần một năm trôi qua, chúng tôi cũng quen dần với việc vắng ba… cuộc sống càng cơ cực hơn. Một mình má lo toan không xuể, các dì cũng thương giúp đỡ thường xuyên, chúng tôi ngoài việc giúp má buôn bán, mỗi tối, chị tôi còn lãnh hàng chợ về may thêm để phụ giúp gia đình, có hôm chị phải thức suốt đêm để may kịp hàng cho người ta… đến lúc má tôi phát hiện chị bị nám phổi thì má không cho chị lãnh hàng về may nữa. Chúng tôi, mỗi đứa đều tự giác đóng góp phần công sức của mình để má bớt đi nỗi cực nhọc và nỗi buồn vắng cha, các em tôi đi lượm củi khô để má không phải tốn tiền mua chất đốt. Ở thành phố mà việc kiếm củi không khó như ở nhà quê chút nào, người ta nấu bằng dầu, bằng than nên họ cho chúng tôi những thanh củi khô, những đồ vật bằng gỗ không xài đến, chúng tôi chịu khó đi xin về cho má làm củi chụm không hết… tôi thì mỗi đêm đi gánh nước ở phông tên gần đấy thay cho anh ba tôi đã đi quân dịch để má không phải tốn thêm tiền mướn người ta gánh nước. Dạo ấy Sài Gòn, ở những xóm lao động còn xài nước chung ở những nơi công cộng, chứ chưa có nước vào từng nhà như bây giờ… những lúc nước chảy yếu tôi phải thức gần sáng để gánh cho đầy các lu, vại chứa trong nhà… cực nhất là gánh tranh với những người gánh nước mướn. Họ gánh mướn chuyên nghiệp nên xếp hàng bằng thùng rất nhiều, thường thì họ hứng được năm đôi nước rồi mới nhường cho người thường một đôi, tôi thì có cô bạn làm nghề ấy nên nó cũng giúp đỡ bằng cách cứ hai đôi thì cho tôi xen kẽ một đôi nên tôi cũng mến nó lắm…

Cuối năm đó, má tôi sinh thêm em gái út, bé Phượng, lúc ba tôi mất tích em hãy còn nằm trong bụng mẹ, nhà càng cơ cực hơn, chị tôi phải nghỉ học để đi làm thêm, cũng may có người chị họ làm ở công ty đường Việt Nam nên chị ấy cũng giới thiệu cho vào công ty làm chung phòng với chị, năm ấy, tôi buồn quá nên học hành cũng sa sút, thi rớt Đệ thất trường công, tôi phải nghỉ học một năm để bớt đi gánh nặng cho má, rồi tôi tự học để thi lại năm sau, lại cũng rớt nữa…! Tôi buồn lắm, tự nghĩ chắc là mình phải nghỉ học thôi, bỡi má còn lo cho các em nữa, tiền đâu mà đóng học phí trường tư cho mình… thế nhưng má cũng không cho tôi nghỉ học, tôi học ở trường tư thục gần đấy, trường Chi Lăng. Có lẽ tôi là đứa lớn nhất lớp vì học trễ đến hai năm cơ mà, nhưng tôi cũng không ngượng vì trong lớp cũng có nhiều đứa như tôi, chúng tôi ngồi chung nhau ở bàn cuối lớp, thầy gọi là xóm nhà lá vì học đã dở lại hay nói chuyện rì rầm suốt buổi… Má tôi vừa nuôi con mọn, vừa chăm sóc một bầy con nhàng nhàng đủ mọi lứa tuổi ăn chưa no lo chưa tới, vậy mà má vẫn không một lời ta thán, vẫn hàng ngày ra chợ để mua thức ăn về làm cơm bán cho mọi người, không cần lời nhiều, chỉ cần có cơm cho các con ăn để đi học là được rồi, chúng tôi dù vất vả theo má nhưng không một đứa nào phải nghỉ học cả. Cứ đứa nầy đi học thì đứa kia ở nhà giúp má, chúng tôi luân phiên nhau, đứa học sáng, đứa học chiều để lúc nào cũng có đứa ở nhà giúp má, bây giờ ngoài việc bán hàng ra, chúng tôi còn phải trông em nữa… Một buổi sáng, tôi đi học về thấy má đang tiếp chuyện với một vị linh mục, tôi cũng không ngạc nhiên vì nhà tôi ở gần nhà thờ, bà con lối xóm mới di cư vào ở chung quanh nhà cũng là người theo đạo Thiên Chúa, có lẽ là họ theo đạo từ lúc thực dân Pháp xâm lăng đất nước ta đến giờ…họ thuộc giai cấp rất nghèo trong xã hội, theo để được quyền lợi gì chăng ? Chính quyền lúc bấy giờ là chính phủ Ngô Đình Diệm, cũng theo đạo Thiên Chúa, anh của Tổng Thống Diệm cũng làm linh mục, đang phấn đấu để được lên chức Hồng Y nên họ càng ra sức chiêu dụ giáo dân để lập công với tòa thánh, ai theo đạo sẽ được lên chức, được cấp đất, cấp vốn, cấp nhà,… thậm chí còn được gả con cho mà không tốn một xu, sau nầy, anh hai tôi cũng là một nạn nhân, nên tôi biết điều đó và nghĩ rằng nghiệp dĩ của anh là như thế để không bận lòng nữa… má tôi là người nhà quê nên rất cứng rắn trong việc cãi đạo, má nói : ông bà tổ tiên của mình ngày xưa sống thế nào, bây giờ mình phải giữ gìn nề nếp như thế ấy, cái gì hợp với phong tục tập quán tốt đẹp của tổ tiên và không đi ngược lại với truyền thống của ông bà thì tự nó sẽ tồn tại không cần phải chiêu dụ…Tôi hỏi má : - Vậy khi vị linh mục đề nghị gia đình ta theo đạo, má bảo sao ? - Thì tao nhất định không theo, cho dù ông ấy hứa can thiệp cho ba mầy được về hoặc ít ra là cũng được thăm nuôi…

Tôi ngạc nhiên: – Vậy ra ông ấy biết là ba bị chính quyền bắt hả má ? Nhưng tại sao ?

Má tôi thở dài : – Thì tại… cái ông khách, ông Sáu Lành đến nhà mình hôm rồi ấy. Ông ta bị bắt, rồi khai là dùng nhà ba làm liên lạc, thế là ba mầy cũng bị liên lụy… má đã đoán ra rồi…!

Tôi nhìn má ngạc nhiên : – Vậy sao má còn đi bói toán làm chi ? Sao má không hỏi xem ba bị giam ở đâu ? để còn đi thăm nuôi ba nữa chứ – Thì… trong lúc có bệnh phải vái tứ phương chứ, má cũng hi vọng…điều má nghĩ là sai, nhưng, con khờ quá… đã có tin tức của ba là quí rồi, ai người ta cho mình đi thăm nuôi, vã lại ba con bị bắt cóc, tức là bị bắt trong vòng bí mật, có nơi nào nhận là đang giam giữ ba con đâu… mà đòi đi thăm nuôi ?

Má tôi lại thở dài chịu đựng, cả đời má có lẽ là như vậy. Chúng tôi cũng chẳng giúp được gì cho má. Tôi buồn lắm, nếu như tôi có phép thần thông, tôi sẽ không để yên cho những kẻ tranh quyền đoạt lợi bằng cái ghế uy quyền sống trên sự đau khổ của kẻ khác đâu ! Gia đình tôi lúc đó đã khổ lắm rồi mà so với nổi khổ của cả nước bấy giờ cũng vẫn không có ý nghĩa gì .Năm ấy, cuộc chiến giữa hai miền Nam, Bắc càng lúc càng khốc liệt hơn. Sáng hòa đàm, chiều tin vi phạm như cơm bữa, có những gia đình phải tiễn đưa con trong nỗi uất ức, nghẹn ngào… bỡi chúng chỉ là những thanh, thiếu niên mới tốt nghiệp ra trường chưa được chuẩn bị vào đời đã phải giã từ cuộc sống. Anh Sơn, anh họ tôi, con cậu Tám anh của má, vừa mới ra trường bộ binh, chưa một lần ra trận đã phải ra đi lặng lẽ trong sự tiếc thương, đau đớn tột cùng của thân bằng, quyến thuộc…Mỗi lần về Cần Thơ, tôi như người mộng du khi chứng kiến hàng trăm xác lính trẻ được chở về phi trường mỗi ngày. Nhà dì bảy tôi ở cạnh phi trường nên việc đó gần như là cảnh sinh hoạt thường ngày ở trong xóm. Mỗi lần có chuyến bay chở xác về là lũ trẻ con chúng tôi đều chạy qua xem, riết rồi không đứa nào còn biết sợ hãi là gì nữa.Má tôi, mỗi lần nhìn thấy cảnh ấy thì nước mắt chan hòa, chắp tay cầu nguyện cho các con, cháu ở cả hai miền, má nói : – Ở đây như thế thì ngoài kia khác gì, cuộc chiến nầy không biết có lợi cho ai mà con cháu tao phải hi sinh nhiều quá…hai thằng anh của các con không biết có thoát được không nữa…

Má thở dài chẳng nói trọn câu, nước mắt đã lại lặng lẻ chảy dài trên khuôn mặt đã hốc hác lại càng hốc hác thêm của má. Nói cho cùng, má tôi không lo sao được khi mà các con của má cũng đang ở một chiến trường nào đó, đang phải đối mặt với không phải kẻ thù xâm lăng, mà là những anh em, đồng bào ruột thịt của mình ở chiến tuyến bên kia, cũng ngày đêm hi sinh xương máu cho một ý thức hệ nào đó. Thật là đau khổ cho má, cho những bà mẹ Việt Nam chân quê chỉ biết có thương yêu con cháu là vũ khí duy nhất để chống lại quá nhiều kẻ thù đang rình rập chung quanh : những kẻ ôm tham vọng làm chủ đất nước nầy, những kẻ muốn biến các con cháu của má làm tay sai cho ngoại bang, những kẻ muốn lợi dụng xương máu của những người lính trẻ để có được cấp bậc, quân hàm vẻ vang cho mình, những kẻ muốn lợi dụng công sức của cả một dân tộc để củng cố quyền lực đương thời của chúng… nhiều, nhiều lắm… không thể kể hết mọi tham vọng của con người nhằm vào con người đâu, má tôi tuy nhà quê nhưng cũng biết thế nào là lòng yêu thương chân chính của con người đối với con người, má suy ra từ tình thương của má đối với các con của mình, đối với người thân của mình, đối với đồng bào dân tộc của mình, một tình thương chất phác vô điều kiện, không hề vụ lợi bao giờ… Tôi cảm thấy điều đó rất rõ, một người đàn bà nhà quê không được đi học như má tôi thì biết được gì ngoài việc dạy dỗ các con của mình qua thực tế cuộc sống hàng ngày mà má phải gồng gánh thay cho ba tôi. Đối với má, lòng yêu nước, chính là thương yêu những đồng bào, đồng loại còn đang đói khổ chung quanh mình. Quán cơm của má tôi cũng đã đóng góp một phần cho xã hội, những em nhỏ bụi đời mà má thường cho ăn không tính tiền hay những anh lính “ deuxième cùi bắp”, những sinh viên nghèo đến ăn chịu thường xuyên… má nói đó là sự chia xẻ, sự thương yêu, đồng cảm đối với các con, các cháu của mình, má cũng không cần ai biết đến, cũng không cần một sự đền đáp nào hết, má coi đó là nghĩa vụ của mình, của người dân ở bất cứ một đất nước nào cũng đều như thế cả… Má tôi thường dạy chúng tôi như thế, cho nên, tuy quán cơm của má tôi đã hoạt động bao nhiêu năm trời mà má tôi nghèo vẫn hoàn nghèo, chỉ đủ cơm cho các con ăn đi học mà thôi. Nhiều lúc, dì tôi phải góp ý : – Chị Mười bán như thế chẳng khác nào quán cơm xã hội, bao giờ mà khá lên được. Chị cứ vừa bán vừa cho thì có đến hết kiếp cũng không có dư…làm sao mà giàu có được như người ta

Má tôi chỉ cười : – Dì Ut nói thế… chứ tôi còn để dành được nhiều lắm đó…

Rồi má chỉ vào chúng tôi : – Mười cái ống heo con của chị đó, chúng nó lớn đến đâu là vốn của chị nở ra đến đó…

Dì tôi lắc đầu, thán phục : – Tao sợ má mầy luôn, hồi ba mầy còn ở nhà cũng thế, ngang không chịu được, ai bảo cũng không nghe, ai khuyên cũng không được, cứ theo ý mình mà làm, giống như một cặp trời sinh vậy đó…

Chúng tôi nghe dì nhắc đến ba bỗng cảm thấy buồn vô hạn, ba tôi giờ nầy đang ở đâu ? có được bình yên hay không ? họ có làm gì ba không ? nghe má nói những loại can phạm chính trị tình nghi như ba được đối xử rất đặc biệt, được ở riêng chứ không giam chung với các loại tội phạm khác, nên chúng tôi cũng yên lòng chờ đợi một sự thay đổi tình cờ nào đó…

Tình hình xã hội lúc bấy giờ cũng rối loạn không khác gì ở chiến trường, tuy là hậu phương nhưng lúc nào cũng bất an, người dân, điển hình là gia đình tôi, luôn sống trong sự lo lắng khôn nguôi. Ba tôi, một người dân lương thiện, chỉ biết nuôi con, dạy con trở nên người hữu dụng cho xã hội, vậy mà cũng không không được yên thân. Ba bị bắt cóc một cách mờ ám trên đường đi làm về, để rồi ba năm đã trôi qua mà tin tức vẫn bặt tăm. Má đi tìm kiếm khắp nơi sau khi vị linh mục đến chiêu dụ, nhưng không một nơi nào nhận là có giam giữ ba tôi. Chúng tôi sống trong hi vọng và tuyệt vọng, bỡi má tôi lo rằng nếu như gia đình tôi không nhượng bộ thì chắc chắn là ba tôi sẽ không bao giờ được trở về với gia đình nữa. Chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ ra sức đàn áp Phật Gíáo để lập công với tòa thánh Vatican, sinh viên học sinh biểu tình khắp nước để phản đối chế độ độc tài, gia đình trị của họ: nào chiêu dụ dân cải giáo, nào cấm Phật tử đến chùa, chụp mũ cộng sản để bắt bớ tăng ni và đồng bào theo đạo Phật. Cao điểm phong trào tranh đấu của sinh viên Phật tử, tăng ni là tuyệt thực và tự thiêu để phản đối chính quyền bất công trong việc đối xử phân biệt với 95% dân số theo đạo Phật trong nước. Hòa thượng Quảng Đức đã làm ngọn đuốc thiêng đầu tiên, để rồi sau đó hàng ngàn ngọn đuốc khác được thắp lên thiêu đốt cả một triều đại bị vô minh sai khiến… Sự nỗi dậy của lực lượng quân đội do Đại tướng Dương văn Minh cầm đầu đã kết thúc chế độ nhà Ngô. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã phải tháo chạy khỏi Dinh Độc Lập trong đêm tối để rồi bị bắn chết ở cuối đường hầm nhà thờ Cha Tam. Không hiểu họ thất bại vì chế độ độc tài đi ngược với lòng dân ? hay đó là sự trừng phạt của chư thần hộ pháp khi thấy họ ra tay quá đáng đối với các bồ tát tại thế ?

Tôi lúc ấy hãy còn quá nhỏ để có thể nhận định tình hình nhưng tôi cũng hay đọc báo để có được hiểu biết chút ít về tình hình chiến sự và chính trị trong nước. Sau khi chính quyền nhà Ngô sụp đổ thì một loạt thay đổi khác diễn ra trong nước: Tướng Dương Văn Minh, Tướng Nguyễn Khánh, ông Nguyễn văn Hương,…mỗi người cầm quyền được vài tháng thì tổng tuyển cử : ông Nguyễn văn Thiệu được bầu làm Tổng Thống và ông Nguyễn Cao Kỳ làm phó tổng thống. Dân chúng tạm thời yên lòng để làm ăn sinh sống mà không sợ bị khủng bố để ép buộc cải giáo nữa…

Một buổi sáng kia, cả nhà tôi đang chuẩn bị hàng như mọi khi để bán thì bỗng ba tôi xuất hiện, mái tóc trắng xoá. Tôi nhớ lúc ba còn ở nhà, tóc ba hãy còn đen nhánh kia mà, chắc là tại vì ba lo lắng, suy nghĩ nhiều quá cho má và chúng tôi ở nhà? Một chiếc xe tải nhỏ chở ba tôi về, có cả chiếc mô bi lết xanh của ba. Họ trả ba về cũng đột ngột như lúc họ bắt cóc ba. Chiếc xe dừng lại, ba tôi vào nhà, họ không nói một lời rồi rồ xe chạy đi. Tôi nhìn thấy trên xe cũng còn một vài người trạc tuổi ba tôi, chắc họ là bạn của ba trong thời gian ba bị giam giử. Tôi nghĩ thế. Cả nhà túa ra bu chung quanh ba không nói được lời nào. Má tôi ứa nước mắt, lăng xăng đi pha nước chanh cho ba…chỉ có bé Phượng là tròn mắt nhìn ba ngạc nhiên, bỡi em ra đời trong lúc ba không có nhà, ba là một thành viên mới, lạ đối với em. Tối hôm đó, cả nhà phì cười khi em bảo ba ra ngoài ngủ đi, nhất định không cho ba vào phòng… Ba kể lại thời gian ba bị giam giữ: buổi sáng ba đi làm bình thường, lúc về thì bị họ chận lại khi sắp về tới nhà, rồi cả người lẫn xe được họ mời về đồn. Lúc vào cổng họ bịt mắt ba lại nên ba chỉ đoán mò là nơi ấy rất gần nhà, vì thời gian đến đó không đầy mười phút…bây giờ ba mới biết là đúng vì khi trả tự do ba không bị bịt mắt nữa. Đó là tầng hầm của một trại lính phía sau nhà chúng tôi. Ba kể lúc họ mang ba về trại cũng có rất nhiều người trạc tuổi ba, họ được đi lại tự do…trong khuôn viên của trại. Má tôi hỏi: – Còn ông Sáu Lành, có bị giam chung với ông không? Có đúng là ông ta đã làm liên lụy đến ông không?

Ba tôi gật đầu, có vẻ thương cảm: – Tội nghiệp, anh ta bị tra tấn nhiều quá, tôi chỉ gặp lúc vào trại, sau đó không gặp nữa… cho đến bây giờ…

Má tôi lặng lẽ vào nhà dọn cơm cho ba, rồi nhìn ba, nhìn mái tóc trắng xóa của ba mà ứa nước mắt. Chúng tôi ngồi quanh ba, hỏi han đủ thứ, kể đủ thứ chuyện về má, về chúng tôi trong thời gian ba vắng mặt… Ngày hôm sau ba tôi đến cơ quan trình diện , công ty điện lực vẫn nhận ba tôi trở lại làm việc như lời đã hứa, nhưng lần nầy ba phải đi làm xa hơn, tận chi nhánh của công ty điện lực ở Biên Hòa…

Chúng tôi yên tâm học hành mà không sợ phải bị nghỉ nữa chừng, lúc ấy tôi đang học lớp đệ ngũ, đệ tứ ở trường Bồ Đề, trường nằm trong chùa Gíác Ngộ nên tôi cũng có dịp học hỏi thêm giáo lý Đạo Phật. Ngày chủ nhật, ba má cũng cho tôi được đi sinh hoạt trong gia đình Phật tử của chùa, một đoàn thể Hướng đạo sinh Phật tử lúc bấy giờ. Đi sinh hoạt đoàn thể ấy rất vui và bổ ích, ngoài việc học những thao tác của một hướng đạo sinh như : các kiến thức trong những buổi cắm trại ngoài trời, dấu đi đường, morse, sémaphore, nấu ăn, sơ cấp cứu thương…vv… chúng tôi còn được học hỏi giáo lý giải thoát của Đức Phật, được đi cắm trại ngoài trời để thực hành những gì các anh chị huynh trưởng và quí thầy đã dạy xong phần lý thuyết… cho nên sau nầy, trong cuộc sống chúng tôi cũng được ảnh hưởng rất nhiều tinh thần từ bi đó trong cách hành xử đối với con người, đối với bất cứ ai mà chúng tôi có thiện duyên gặp gở trong kiếp nầy…Anh hai tôi, năm ấy cũng được phép về thăm nhà vào dịp tết, trông anh đen nhẻm đi, nhưng rất khoẽ mạnh. Má tôi mừng lắm . Cả nhà vui không gì bằng, chỉ có anh ba là chưa về nhưng cũng có gởi thư cho biết tin tức bình yên, khoẽ mạnh… Mặc cho sóng gió, giòng đời đưa đẩy cuộc sống của từng người, từng gia đình khi lên lúc xuống như con nước thủy triều ngày hai bận xuống, lên… chúng tôi vẫn sống êm đềm bên cạnh ba, má cùng với nổi chật vật áo, cơm, nhưng trên hết, chúng tôi luôn hiểu rằng để có được cuộc sống yên lành như thế thật không phải dể, sau nầy, nếu như chúng tôi- các con của ba má- có được cuộc sống tốt hơn chúng tôi đều tự dặn lòng là phải biết thương yêu nhau hơn vì chúng tôi đã được trui rèn trong lửa đỏ, đã được diễm phúc làm người thân của nhau trong kiếp nầy. Ba má cũng đã từng dạy chúng tôi như thế-“ nếu các con vì sự giàu sang mà rẻ khinh anh em của mình, hay vì lòng tị hiềm, đố kị, ghen ghét mà xa lánh, không thương anh em ruột thịt của mình thì trăm ngàn kiếp sau các con sẽ không được làm người thân của nhau nữa đâu”.Điều nầy tôi không biết má nghe thấy ở đâu nhưng tôi biết má rất tin là đúng vì má cứ nhắc đi nhắc lại luôn để răn dạy chúng tôi như một câu kinh nhật tụng. Tôi hiểu ý má nên tôi luôn tự nhủ lòng là phải sống như thế nào để mỗi lúc đêm về, tự vấn lương tâm mà không cảm thấy hổ thẹn với chính mình, để ba má hài lòng, để xứng với công ơn dạy dỗ của ba má… và nhất là để… không uổng phí cả một kiếp người …

Vân Hà (TTHA)