Lời Phật dạy

"Không làm các việc ác, Siêng làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy!" (Kinh Pháp Cú)
Showing posts with label chinhluan. Show all posts
Showing posts with label chinhluan. Show all posts

Monday, October 5, 2026

SỐNG TRONG TINH THẦN PHÁP HOA GIỮA THỜI CÔNG NGHỆ

SỐNG TRONG TINH THẦN PHÁP HOA GIỮA THỜI CÔNG NGHỆ

NGUYÊN CẨN

Chúng ta đang sống trong một thời đại “siêu liên kết”(hypertexted). Chưa bao giờ người ta kết nối với nhau nhanh như bây giờ. Với những công cụ như mạng xã hội, như viber, instagram, zalo, facebook,… họ có thể gặp gỡ, trao đổi và kết nối rất nhanh mọi thông tin. Thử tìm một vài góc nhìn để chúng ta cùng “thực hành” tinh thần kinh Pháp Hoa trong bối cảnh công nghệ hôm nay.

Khai mở tri kiến Phật

Trong kinh Pháp Hoa, mục đích cốt lõi là “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” tri kiến Phật. Giữa biển thông tin thật giả lẫn lộn, chúng ta hãy dùng “tuệ giác” để lọc nội dung. Thay vì rơi vào mê hồn trận với những thông tin và thuật toán dẫn dắt đến những tranh cãi, tiêu cực, chúng ta chủ động chọn những dữ liệu nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và trí tuệ. Mỗi lần mở app, hãy tự hỏi: “Thông tin này có giúp mình bớt khổ, thêm vui không?”.

Hành trì “hạnh bất khinh”

Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát (phẩm thứ 20 trong kinh Pháp Hoa) là một trong những chương gây xúc động và có tính ứng dụng thực tiễn mạnh mẽ nhất. Bồ tát Thường Bất Khinh không dùng thần thông hay lý thuyết cao siêu, ngài chỉ thể hiện một thái độ sống. Ngài dạy ta không khinh miệt bất cứ ai, vì ai cũng có khả năng thành Phật. Cái tên nói lên tất cả: “Thường” là luôn luôn, không gián đoạn; “Bất Khinh” là không xem thường. Hạnh nguyện của ngài là gặp bất cứ ai – dù là người tu hành, cư sĩ, hay kể cả những người hung dữ, ngạo mạn – ngài đều cung kính chắp tay thưa: “Tôi rất kính quý các ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì các ngài đều tu hành đạo Bồ tát, sẽ được làm Phật”. Thế nên, chúng ta thường nghe “Tất cả chúng sanh đều có Phật tính”.

Đây là điểm quan trọng nhất của phẩm này: Triết lý “Phật tính” bình đẳng. Thường Bất Khinh Bồ tát không nhìn người khác qua diện mạo, địa vị hay hành vi hiện tại của họ. Ngài nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc đầy sai lầm đó để thấy viên ngọc quý (Phật tính) bên trong mỗi người. Sự thật tuyệt đối là ai cũng có khả năng giác ngộ. Ngài tôn trọng “tương lai” của họ hơn là phán xét “quá khứ” hay “hiện tại” của họ. Ở ngài, ta nhận ra sức mạnh của sự nhẫn nhục và lòng kiên trì. Phẩm kinh mô tả khi ngài nói lời cung kính, thay vì được đáp lại bằng sự tử tế, ngài lại bị mắng chửi, xua đuổi, đánh bằng gậy gộc, ném bằng gạch đá. Đáp lại, ngài không tức giận, không bỏ cuộc. Ngài chỉ đứng xa ra và tiếp tục kêu lớn lời cung kính đó. Đây là đỉnh cao của nhẫn nhục. Ngài hiểu rằng sự giận dữ của đối phương là do họ chưa nhận ra giá trị thật của chính họ. Ngài nhẫn nhục không phải vì yếu thế, mà vì lòng bi mẫn quá lớn. Nhờ công hạnh này, khi lâm chung, Bồ tát Thường Bất Khinh nghe được kinh Pháp Hoa trên không trung, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được thanh tịnh, tăng thêm thọ mạng và cuối cùng thành Phật. Quan trọng hơn, những người từng ném đá, mắng chửi ngài sau này cũng nhờ nhân duyên đó mà được ngài hóa độ.

Để sống Pháp Hoa theo phẩm Thường Bất Khinh, chúng ta phải chống lại thứ văn hóa phán xét chủ quan. Trong thời đại công nghệ qua mạng xã hội, chúng ta rất dễ “khinh” một người qua một dòng trạng thái, một comment hay một hành động sơ suất. Hạnh Bất Khinh dạy ta dừng lại 3 giây trước khi chỉ trích, để nhớ rằng họ cũng là một con người đang học cách trưởng thành. Thứ đến, chúng ta phải tôn trọng chính mình: Bạn không thể “bất khinh” người khác nếu bạn vẫn đang tự ti hay khinh rẻ bản thân. Hãy tin vào chính mình trước.

Phải tìm cách hóa giải xung đột trong chính chúng ta. Khi đối mặt với sự thù ghét, thay vì đáp trả bằng thù ghét (vốn chỉ làm lửa cháy thêm), hãy đáp trả bằng sự điềm tĩnh và tôn trọng. Đó là cách duy nhất để chuyển hóa nghịch duyên thành thuận duyên.

Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
(Pháp Cú, phẩm Song Yếu, câu 5)

Phải giữ chánh ngữ trước những sóng gió của dư luận là một việc khó khi ta dễ bị cuốn theo xu hướng (trend) để sỉ nhục hay phê phán ai đó không giống như mình nghĩ, và khi đó tránh rơi vào “bão tố truyền thông” để có thể phải ngậm ngùi ân hận. Trong kinh Lời Nói, đức Phật giảng 5 yếu tố của một lời nói thiện lành như sau: “Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những bậc hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm? Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời đem đến lợi ích, nói với từ tâm”.

Phẩm Thường Bất Khinh dạy ta tin vào con người. Phẩm chất của người biết sống “thiện lành” không nằm ở kiến thức uyên bác, mà nằm ở chỗ chúng ta có thể cúi đầu trước một người đang lầm lỗi với sự kính trọng chân thành. Trên không gian ảo, nơi người ta dễ dàng buông lời nhục mạ mang tính chất sát thương qua bàn phím, việc sống Pháp Hoa chính là không tham gia vào “bạo lực mạng”(cyberbullying). Hãy nhìn những “comment” tiêu cực bằng sự cảm thông, hiểu rằng họ cũng đang có những nỗi khổ riêng. Giữ một thái độ tôn trọng với mọi cư dân mạng khác chính là đang thực hành hạnh Bất Khinh.

Biến Công nghệ thành “Phương tiện” (Upaya)

Trước đây, Đức Phật dùng vô số phương tiện để độ sinh. Ngày nay, công nghệ chính là phương tiện quyền biến nhất. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Kyoto vừa công bố một robot hình người mang dáng dấp tu sĩ, tên là Buddharoid, được thiết kế nhằm đưa ra những lời hướng dẫn cho sự tu tập và đối thoại Phật giáo đến với quần chúng, trong bối cảnh Nhật Bản đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số và sự suy giảm nghiêm trọng của đội ngũ tăng sĩ. Tuy vậy, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng Buddharoid không nhằm thay thế tăng sĩ đã thọ giới, mà trước hết chỉ là một nền tảng nghiên cứu. Nó có thể hỗ trợ các công việc thường nhật hoặc cung cấp sự tư vấn tinh thần cho những cộng đồng khan hiếm Tăng lữ. Một số học giả cho rằng Phật giáo, với những tư tưởng cốt lõi như vô thường và vô ngã (anatta) có thể mở ra một cách nhìn đặc biệt về trí tuệ nhân tạo – không xem như một “cái tôi” độc lập, mà như một hiện tượng duyên sinh, từ đó giúp chúng ta suy ngẫm lại về bản ngã, ý thức và vai trò của con người trong đời sống tâm linh (theo Tuần báo Giác Ngộ, số 1342, tháng 3, 2026).

Chúng ta có thể ứng dụng công nghệ để hành thiền, như là nghe pháp thoại khi đi tàu xe, hay dùng AI để tối ưu hóa công việc nhằm dành ra 15 phút tĩnh tâm mỗi ngày. Công nghệ giúp ta kết nối vạn vật, vậy hãy dùng nó để kết nối tình thân và lan tỏa những giá trị tử tế.

Thực hiện “chủ nghĩa tối giản kỹ thuật số” (digital minimalism): Lên lịch cho những khoảng thời gian cố định, có chủ đích để rời xa màn hình để cải thiện sự tập trung, chất lượng giấc ngủ và các kết nối trực tiếp.

Trở thành công dân số trách nhiệm (responsible digital citizens): Sử dụng tiếng nói và nền tảng của bạn để tạo ra thay đổi tích cực.

Kết nối (networking) xây dựng các mối quan hệ chân thành, cùng có lợi, chứ không chỉ là thu thập danh sách liên lạc. Hãy tìm kiếm những người cố vấn, những bậc thầy, nói chuyện với những người trong lĩnh vực bạn ngưỡng mộ và thực hành nghệ thuật trò chuyện trực tiếp.

Nâng cao sức khỏe tinh thần và sự an tĩnh (mental wellbeing). Bằng việc học cách nói “không” với những cam kết làm cạn kiệt năng lượng hoặc làm quá tải lịch trình của bạn.

Thực hành lòng trắc ẩn với bản thân: Thế giới đặt áp lực to lớn lên bạn phải thành công nhanh chóng. Hãy từ chối áp lực của chủ nghĩa hoàn hảo. Nhìn ra sự kết nối tương hỗ (interconnectedness) của vạn vật qua mạng lưới internet trong tinh thần Nhất thừa của Pháp Hoa và nhận ra giá trị thiêng liêng ngay trong từng khoảnh khắc hiện tại, dù đang làm việc trực tuyến. (Hiện Bảo Tháp)

Sống Pháp Hoa giữa thời đại 6.1 là khi bạn cầm điện thoại trên tay, nhưng lòng không bị cuốn theo những thông báo (notifications), là khi bạn làm chủ công nghệ chứ không để công nghệ làm chủ tâm thức mình. Chúng ta phải có những kỹ năng sống trong thời đại, như: (a) Xác minh thông tin, trước khi chia sẻ thông tin, hãy kiểm tra tính xác thực của nó; (b) Đọc và nghiên cứu đa chiều, nghiên cứu từ nhiều nguồn tin khác nhau và có quan điểm khác nhau để có cái nhìn toàn diện về một vấn đề; (c) Tính logic, nghĩa là sử dụng khả năng suy luận để xem xét thông tin một cách khách quan; (d) Không chia sẻ thông tin mà không kiểm chứng.

Ngoài ra, chúng ta phải trang bị kiến thức về phân biệt thông tin, nhận dạng thông tin sai lệch và xác định nguồn tin đáng tin cậy. Điều này, giúp bạn trở nên nhạy bén và kháng cự với thông tin sai lệch.

Tóm lại, sống Pháp Hoa nghĩa là tin vào Phật tính nơi mình. Từ đó, xây dựng nội lực để vững bước theo tinh thần Bồ tát đạo – sống giữa đời mà không ô nhiễm. Tinh thần Pháp Hoa không khuyến khích ta xa lánh cuộc đời, mà khuyến khích dấn thân vào để độ đời. Điều đó, cũng có nghĩa là sống với tri kiến “Nhất thừa” khi hiểu mọi người đều đang trên con đường giác ngộ. Tâm chúng ta không còn phân biệt tôn giáo, địa vị, trình độ, và trở nên bao dung hơn, tôn trọng phẩm giá người khác. Được như thế, chúng ta ứng dụng Pháp Hoa giữa lòng thời đại không phải chỉ tụng kinh, đi chùa mà là dùng phương tiện và trí tuệ phù hợp thời đại như đóa sen không cần rời bùn mới nở. Người học Pháp Hoa khi nhận ra chánh pháp, tự tìm về bến giác giữa nhân gian.

Trích từ Phật Học Từ Quang Tập 56 Tháng 4 Năm 2026 (PL. 2570)

Thursday, July 23, 2026

Những điểm khác biệt giữa nhà báo và nhà văn

 


Những điểm khác biệt giữa nhà báo và nhà văn

ThS. Phạm Văn Cảnh

Làm báo và làm văn cùng là nghề cầm bút, cùng sống bằng ngòi bút. Những nhà văn nhà báo cùng được xếp chung vào hàng ngũ trí thức, kẻ sĩ của thời đại. Trong xã hội ta ngày trước, kẻ sĩ là một đẳng cấp cao trong xã hội :
“Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên…
Trót sinh ra thì sĩ đã có tên,
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý…”
(Nguyễn Công Trứ)

(Nghĩa là: Tước vị có 5 bậc thì người trí thức đứng ở một bậc trong đó; Dân chúng chia làm 4 lớp người thì người trí thức đứng đầu; Đã chót sinh ra ở đời thì danh xưng “trí thức” đã được xác lập vị thế; Từ thời nhà Chu, nhà Hán thì người trí thức vốn đã được xem là cao quý).

Đó là tầng lớp mà nhà cầm quyền nào cũng phải xem trọng, vì ngoài việc tốn công phu đào tạo dài ngày (tốn kém ngân sách nhà nước, ngân sách gia đình, mỗi cá nhân…) còn là bộ mặt ngoại giao, chính trị… của một đất nước. Muốn biết chính sách hoặc tiềm năng một quốc gia như thế nào, người ta cũng quan tâm đến sự đãi ngộ hoặc việc sử dụng tầng lớp trí thức ra sao ?

Mặc dù là một nhà lãnh đạo quân sự chiến lược, một ông vua có tầm nhìn lớn, làm nên kỳ tích Vạn lý trường thành … để lại cho đời sau chiêm ngưỡng, nhưng Tần Thuỷ Hoàng cũng không thể nào bôi xoá vết nhơ trong lịch sử tội ác lớn nhất “phần thư khanh nho” (đốt sách chôn học trò). Vụ Thiên An môn xảy ra tại Trung Quốc hơn 40 năm trước, tuy đã được nhà cầm quyền Trung quốc che chắn, bưng bít… và tìm mọi phương kế giải độc dư luận trong nước và quốc tế, nhưng cuối cùng trong di chúc của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình cũng phải thú nhận “…trong nhựng lúc tỉnh táo tôi thấy vụ Thiên An môn có cách giải quyết tốt hơn, bớt đổ máu hơn, và tôi đã nhìn nhận sự thật, thì các đồng chí lão thành cũng nên có dũng khí…”.

Do đó vai trò của người trí thức hết sức quan trọng đối với xã hội, một phần của khuôn mặt bang giao quốc tế. Mặt khác, xã hội ta, từ xưa rất chuộng sự học , nó trở thành truyền thống, đạo thống của dân ta. Ngày xưa các cụ trọng sự học đến nỗi thấy tờ giấy có viết chữ (chữ nho), dặn con cháu không được buớc qua, bước qua là bất kính là không bao giờ học giỏi được… Mặc dù cũng có lúc đầu óc khôi hài của dân ta đã từng phản ứng nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ… Kẻ sĩ còn sống trong lòng người dân, cầm nắm thế đạo nhân tâm, là khuôn vàng thước ngọc của sự mẫu mực, là người âm thầm lãnh đạo cả một mặt trận văn hoá từ các tác phẩm lớn của nền văn chương bác học, đồng thời cũng là đồng tác giả các truyện khuyết danh, vô danh, văn chương bình dân… thẩm thấu trong mọi tầng lớp nhân dân. Trừ những người đã nổi tiếng, phần lớn họ là những chiến sĩ vô danh, sống âm thầm trong bóng tối, nhưng nuôi dưỡng cho dân chúng bao tình cảm cao đẹp, lòng yêu nước, ý chí quật cường, tinh thần cách mạng… Dù kẻ thù xâm lược lùng bắt gắt gao nhưng những vần thơ yêu nước đó vẫn được người dân cất giữ, trân trọng, kín đáo… để cho con cháu có ngày được đọc. Nhà văn, nhà báo được được đánh giá cao cũng một phần bắt nguồn từ truyền thống đó.

Cùng viết về sự thật, cùng phải tôn trọng sự thật nhưng văn phong báo chí và tác phẩm văn chương có khác nhau :

Trước hết làm báo là phải bám sát sự kiện. Văn báo chí luôn phải ưu tiên nói tới sự kiện. Dù bài báo có thể giải thích một sự kiện hoặc đôi khi bày tỏ chính kiến trước sự kiện đó. Nhưng yêu cầu trước hết là phải phản ánh trung thực, chính xác sự kiện.

Bài báo phải có tính thời sự, phổ biến kịp thời mọi thông tin. Nhà văn cũng viết về thời sự, nhưng câu chuyện, chủ đề … có tính lâu dài hơn, thời sự chậm hơn, không cần bám sát sự kiện, chỉ cần nắm được cốt lõi của vấn đề, có thể hư cấu và giả thiết, để câu chuyện thêm phần hấp dẫn… để xây dựng bài của mình.

Kế đến là tính chất giáo dục, sư phạm. Nhà báo khi cầm bút đưa tin hoặc viết bài phải hình dung được phản ứng của người đọc, xem người đọc tiếp nhận bản tin, bài báo… như thế nào. Do vậy, nhà báo phải chọn một văn phong sáng sủa, dễ hiểu, từ ngữ sử dụng phải có tính giáo dục, phù hợp với khả năng tiếp nhận, thông suốt của người đọc đối với nội dung thông tin hoặc bài của mình.

Trường hợp này đối với nhà văn cũng có yêu cầu tính giáo dục, nhưng không bó buộc. Nhà văn có thể chọn bút pháp riêng, viết lạ hơn, hiểm hóc hơn, văn phong cầu kỳ hơn, có sắc thái riêng… cũng không sao vì độc giả mặc nhiên cho phép, vì tính cách viết văn cho phép.

Và đặc điểm thứ ba về văn phong báo chí là đặc trưng mà các nhà ngôn ngữ học gọi là chức năng “kiểm thông”(phatique). Đây là chức năng của những từ như “alô” khi nói chuyện điện thoại hay “ủa, vậy sao?” “ờ thì…” để duy trì mạch liên lạc với người đọc, để họ không bỏ rơi bài của ta khi đang đọc. Người ta thể hiện bằng nhiều cách đa dạng như đặt tít, chạy kiểu chữ ,… Nhưng nếu lạm dụng sẽ rơi vào các lỗi khó lường. Chúng ta có thể không tán thành với các tít giật gân chạy trên một tờ báo nọ của TP.HCM “ Bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo lừa đảo bị truy tố”. Đọc nội dung bài báo thì ta hiểu có ba kẻ lừa đảo đã phạm tội và bị bắt. Nhung chúng ta vẫn cảm thấy xót xa, tự nghĩ nhà báo không nên viết như thế, có một điều rất bôi bác, tuỳ tiện… khi nhà báo không cân nhắc từ ngữ, không biết rằng trong đời sống xã hội thì ở đâu cũng có hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh”. Cách nay gần một tháng, lại có một bài báo khác viết “Ngày nào còn A,B,C thì còn mua bán bằng cấp”, thật là một lập luận ấu trĩ, vơ đũa cả nắm. Chương trình đào tạo tiếng Anh tại chức theo tiêu chuẩn A,B,C là một chương trình được thực hiện lâu dài, công phu của Bộ Giáo Dục. Việc lạm dụng quyền hành, làm sai là của cá nhân, của một nhóm người. Ai vi phạm thì pháp luật xử lý. Việc kiểm tra là của cả guồng máy giáo dục và hệ thống thanh tra. Kẻ nào làm sai cứ bắt tội và xử lý theo luật. Không được đánh đồng như thế. Biết bao đơn vị đào tạo đúng qui định của Bộ, công phu, đầy đủ thời gian ; tổ chức thi cử nghiêm túc, công minh … ta không có một lời khen ngợi, hay lưu tâm đến những người chiến sĩ vô danh, cao quí đó! Mà nay có vài cá nhân sai phạm, đã vội ầm ĩ lên án bằng những cái tít giật gân làm xôn xao dư luận khắp nơi, làm hoang mang cả thầy trò, khi nghe tin đề nghị xoá bỏ chương trình A,B,C. Thật vô tình khi kết luận võ đoán! Tính giáo dục của mỗi bài báo quan trọng như thế! Nhà văn không xem nặng vấn đề “phatique”, mà chủ yếu là cốt truyện, diễn biến tâm lý, và mạch văn. Điều đó duy trì sự theo dõi say mê của độc giả, hơn là sự gây chú ý tức thời.

Điều đáng lưu ý nữa là tính khách quan cùa bài báo. Ta cũng nên phân biệt tính khách quan “hình thức” thường được thể hiện máy móc qua việc trích nguyên văn lời phát biểu hay trả lời phỏng vấn (trong ngoặc kép); để trình bày những quan điểm trái ngược nhau; đưa ra những sự kiện và con số thống kê, xem như những con số và sự kiện đó tự nói lên nội dung.

Tính khách quan mang tính “tổ chức” thường là những thông tin có nguôn gốc từ những giới chức thẩm quyền (thí dụ số người tham gia biểu tình theo số liệu của Sở cảnh sát…; số người nhiễm HIV. thì theo số liệu Sở Y Tế thành phố)… phương cách này cũng sắp xếp trật tự bài viết, cấu trúc bài để tách riêng phần những lời bình, những nhận định ra khỏi phần tường thuật các sự kiện.

Hoặc bài báo sử dụng các “lý lẽ thông thường” tức là sử dụng những ý kiến , nhận định đã có từ trước mà mọi người đều cho là đúng, tránh đưa những ý tưởng khác với ý tưởng của đa số dân chúng; ưu tiên đưa ra những ý mà ai ai cũng thấy là đúng, là hiển nhiên, không cần bàn cãi nữa … Ba tính cách này, nhà báo thường sử dụng để đảm bảo tính khách quan của bản tin.

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng sở dĩ áp dụng phương pháp này bởi vì nhà báo né tránh những chỉ trích , những khiếu nại có thể xảy ra với bản tin. Nhà văn không bị câu nệ bởi tính khách quan, thường chú trọng đến suy nghĩ chủ quan dựa trên lập luận riêng, đánh giá riêng; xoáy sâu vào những ngóc ngách khuất tất… của vấn đề nhưng cũng mang cùng mục đích thuyết phục người đọc công nhận và chia xẻ. Sự khác nhau ở chỗ nhà báo thì sử dụng phương pháp khách quan, nhà văn thì sử dụng phương pháp chủ quan.

Tính thời sự cùa bài báo: Do bị thúc bách về thời gian gấp rút (đối với nhật báo) thời gian nộp bài không quá vài tiếng đồng hồ , nên phòng viên thường không có thì giờ suy nghĩ nhiều đành phải dùng một số sự kiện đã xảy ra để giải thích cho sự kiện mới , hoặc chỉ dừng lại ở sự so sánh đơn giản mà thôi. Yêu cầu bản tin phải ngắn gọn (không quá vài trăm chữ) cũng là một áp lực đối với nhà báo không dám đi sâu vào phân tích, sợ dài dòng quá; đành chấp nhận lối giải thích chung chung lúc nào cũng đúng. Chính áp lực lúc nào cũng tỏ ra có tính khách quan, và đúng sự thật đôi khi cũng khiến nhà báo lập luận theo khuôn mòn lối cũ (mọi người dễ chấp nhận); các áp lực về thương mại nhằm báo bán chạy hoặc mở rộng thị phần… hoặc cả hai yêu cầu đều góp phần khiến bài báo ít có phân tích chiều sâu.

Tính thời sự của nhà văn mang tính lâu dài hơn. Cùng một vấn đề nóng bỏng của xã hội cần phải đề cập nhưng nhà văn không bị các áp lực kể trên mà chủ yếu là áp lực bức xúc tự trong lòng, cần phải viết ra do chính nhà văn suy nghĩ và nghiền ngẫm để xây dựng bài hoặc tác phẩm sao cho đạt hiệu quả truyền thông tốt nhất. Do đó văn có giá trị sẽ thẩm thấu sâu hơn bài báo.

Trên đây chỉ là những suy nghĩ mang tính hình thức mô tả sự khác biệt văn phong giữa nghề văn và nghề báo. Thực ra ranh giới này cũng khó phân biệt rạch ròi. Nhà văn cũng có lúc viết báo để bày tỏ bức xúc của mình trước điều chướng tai gai mắt; nhà báo cũng có lúc viết văn để trút bầu tâm sự u uất, day dứt bao lâu mà chưa nói được, cái hoài bão lớn trong lòng cần phải viết ra, để lại đời sau… Phân tích khái quát điểm khác biệt để hiểu tính cách mỗi thể loại có những yêu cầu khác nhau, để người cầm bút viết đúng phong cách sân chơi của mình, đáp ứng đúng yêu cầu về thể loại thế thôi.

Thursday, October 23, 2025

Chấn hưng dân khí – chìa khoá phát triển trong thời đại mới



Chấn hưng dân khí – chìa khoá phát triển trong thời đại mới

 

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, người Việt chúng ta thường nhớ đến chiến lược của cụ Phan Chu Trinh là “nâng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Đó là một phát biểu mang tính chiến lược trong việc phát triển đất nước, nó đúng ở giai đoạn đó và cũng đúng cho thời hiện đại. Tương tự như vậy, cụ Phan Bội Châu cũng từng khẳng định về tầm quan trọng của dân khí: “Dân khí mạnh thì nước mạnh, dân khí yếu thì nước yếu”.

Dân trí là trình độ giáo dục của quốc dân, dân sinh chỉ đến các hoạt động kinh tế và mức độ thịnh vượng của đất nước. Vậy còn dân khí là gì, vì sao nó thật sự quan trọng cho việc phát triển đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang chuyển mình, hội nhập với quốc tế trong thời đại mới, thời đại AI và toàn cầu hoá. Bài viết này tập trung làm rõ khái niệm dân khí, tầm quan trọng của nó trong việc phát triển đất nước ở bối cảnh xã hội hiện đại của Việt Nam, và gợi ý một vài giải pháp để nâng cao dân khí của nước ta.

·       Dân khí là gì?

Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt, “dân khí” là tinh thần, ý chí, lòng tự trọng và năng lực tự chủ của toàn thể nhân dân. Theo đó, dân khí cao là yếu tố cốt lõi tạo nên sức mạnh dân tộc. Nếu dân khí mạnh thì người dân tin vào năng lực của mình, và phát huy khả năng làm chủ vận mệnh, và tích cực đóng góp vào việc phát triển kinh tế gia đình, cộng đồng và xã hội. Nếu dân khí yếu thì người dân bạc nhược, rụt rè, thiếu tự tin, không tin rằng mình có thể làm việc lớn hay đóng góp vào việc cải sửa nhưng thói hư tật xấu của xã hội.

Trong một xã hội mà dân khí yếu ớt, mọi người đều ỷ lại, trông chờ vào chính phủ hay người khác có thể giúp giải quyết vấn đề của mình, và cuối cùng họ bất lực nhìn mọi thứ ngày càng tệ đi mà không còn ý chí cải sửa hay không thể thay đổi thực trạng. Trong bối cảnh đó, quan chức ngày càng trở nên tham nhũng, tội phạm ngày càng nhiều, mọi người chỉ quan tâm đến bản thân, mà thờ ơ với công việc chung, vận nước để mặc cho số phận và may rủi. Đó thật sự là một bi kịch của đất nước vì mọi người mất hết hy vọng và không còn tin tưởng vào tương lai tươi sáng nữa.

·       Tầm quan trọng của dân khí trong bối cảnh hiện nay

Vì vậy, bên cạnh nâng cao dân trí thì chấn hưng dân khí là một nhiệm vụ sống còn để phát triển đất nước, để chuyển đổi đất nước từ giai đoạn bị đô hộ, nghèo nàn, lạc hậu, thiếu tự chủ sang giai đoạn tự chủ, độc lập và phát triển. Dân khí có thể xem là sức mạnh tinh thần của dân tộc. Nó được thể hiện qua lòng yêu nước (có lý trí), ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, độc lập, tự chủ, và khát vọng vươn lên. Dân trí và dân khí là 2 đôi cánh cần thiết để nâng cao đời sống kinh tế, phát triển “dân sinh” và xây dựng một đất nước ấm no, hạnh phúc.

Nói chung, dân khí là nguồn năng lượng tinh thần to lớn, giúp dân tộc vượt qua nghịch cảnh, khó khăn (như thời kỳ kháng chiến, đổi mới). Nó chính là động lực nội sinh cho phát triển kinh tế, khoa học, giáo dục và văn hóa, đồng thời, nó cũng là lá chắn xã hội trước sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dụng, thờ ơ, vô cảm như trong bối cảnh hiện đại của chủ nghĩa tiêu dùng và “makeno” (mặc kệ nó).

Đặc biệt, trong bối cảnh ngày nay, dưới sự tác động của toàn cầu hóa, tiến bộ công nghệ và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, việc chấn hưng dân khí càng trở nên một nhiệm vụ cấp bách để khôi phục lại niềm tin xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng hội nhập và bền vững của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện đại, dân khí còn thể hiện ở tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, trách nhiệm công dân, dám nghĩ dám làm, và ý thức hội nhập quốc tế của giới trẻ trong thế kỷ 21.

·       Thực trạng dân khí ở Việt Nam hiện nay

Bên cạnh những điểm tích cực của dân khí được kế thừa từ truyền thống của dân tộc, như: tinh thần yêu nước, tương trợ, đoàn kết…, giới trẻ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc học tập, giao lưu quốc tế và tiếp nhận công nghệ mới, nên họ cũng có nhiều khát vọng phát triển, vươn lên, và tiếp cận tri thức toàn cầu.  Tuy nhiên, cũng có nhiều điểm hạn chế của dân khí ở nước ta hiện nay, như: sự thờ ơ với các vấn đề chung của đất nước, thiếu tinh thần trách nhiệm xã hội, suy thoái về đạo đức, thiếu lý tưởng sống, an phận, ngại đổi mới, sợ va chạm, “sĩ khí rụt rè”, tâm lý sính ngoại, tự ti dân tộc, xem nhẹ giá trị truyền thống…

·       Một vài gợi ý về giải pháp chấn hưng dân khí trong giai đoạn hiện nay

- Phát huy tinh thần dân chủ ngay từ các bậc học phổ thông, giúp học sinh quen dần với việc tự giác và tự chịu trách nhiệm trong các sinh hoạt chung.

- Chú trọng giáo dục các giá trị đạo đức từ gia đình, và cộng đồng. Tôn vinh những bài học về nhân ái, liêm chính, trách nhiệm trong cộng đồng.

- Khôi phục niềm tin xã hội bằng việc xử lý tham nhũng nghiêm minh. Đồng thời khen thưởng các tấm gương điển hình về cống hiến, sáng tạo, trung thực, và có lý tưởng trong xã hội.

- Khuyến khích tư duy phản biện, củng cố các thiết chế về tự do ngôn luận như báo chí, mạng xã hội… để khuyến khích giới trẻ dám nghĩ, dám làm, lên tiếng, tố giác các sai phạm, và đóng góp vào việc đề xuất các giải pháp, chính sách chung nhằm phát triển đất nước.

- Nâng cao vai trò của truyền thông, văn học, nghệ thuật, âm nhạc… trong bồi đắp niềm tự tin, tự lực, tự cường, và tự hào dân tộc.

- Có chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp, đổi mới công nghệ và đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng.

Tóm lại, dân khí là hồn cốt của dân tộc, là “năng lượng mềm” giúp Việt Nam đuổi kịp thế giới và tiến bước trong thời đại mới. Chấn hưng dân khí cần được xem là mệnh lệnh bắt buộc ở thời hiện đại, không phải là phong trào nhất thời. Bởi đó chính là chiến lược dài hạn gắn với phát triển con người, giáo dục và văn hóa. Chúng ta hãy cùng nhau nhớ lại và thực hiện cho được lời dặn của các cụ Phan trong việc nâng cao dân khí. Chấn hưng dân khí ngày hôm nay chính là vun bồi cho tương lai phát triển bền vững của Việt Nam – một dân tộc độc lập, tự cường và sáng tạo.

PGS.TS. Phạm Quốc Trung,

Khoa QLCN, Trường ĐHBK TP.HCM


Tuesday, October 15, 2024

Cuộc xâm lăng không tiếng súng

Cuộc xâm lăng không tiếng súng

Trong thời đại toàn cầu hóa, Internet và các tiến bộ công nghệ về thương mại điện tử (TMĐT) đã mở ra nhiều cơ hội cho việc kinh doanh xuyên biên giới. Ngày nay, mọi người không còn lạ gì với các nền tảng TMĐT như Amazon, Alibaba... Ở Việt Nam, việc mua sắm thông qua các nền tảng thương mại điện tử như: Shoppee, Tiktok, Lazada, Tiki... đã trở nên ngày càng quen thuộc với giới trẻ. Tuy nhiên, gần đây với sự trỗi dậy của các nền tảng TMĐT xuyên biên giới như Taobao, Temu... với khả năng cung ứng hàng hóa với giá cực rẻ, thời gian và chi phí giao hàng được rút ngắn đáng kể khiến nhiều quốc gia lo ngại về sự cạnh tranh không lành mạnh và đe dọa đối với các nhà sản xuất nhỏ ở trong nước. Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ trong việc tiếp thị và quản lý chuỗi cung ứng, các nền tảng này có sự phát triển nhanh chóng còn nhờ vào sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ Trung Quốc cho việc vận hành các tổng kho dọc biên giới các nước Đông Nam Á, sự lỏng lẻo trong cơ chế thu thuế của các quốc gia, và khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm kém của các quốc gia nhập khẩu.

Một vài con số thống kê (trích dẫn từ Dantri.com.vn) cho thấy sự tăng trưởng thần tốc của các nền tảng TMĐT xuyên quốc gia của Trung Quốc. Giá trị xuất nhập khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới tăng vọt lên 2.380 tỷ nhân dân tệ (336 tỷ USD), tăng 15,6% so với năm trước đó. Đáng chú ý là phân khúc xuất khẩu đã chứng kiến sự tăng trưởng đột biến 19,6%, vượt qua mức tăng 10,1% của năm 2022 và đạt tổng giá trị 1.830 tỷ nhân dân tệ (258 tỷ USD). Đến quý I năm 2024, tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới đạt 577,6 tỷ nhân dân tệ (81,6 tỷ USD), tăng 9,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng xuất khẩu đạt 448 tỷ nhân dân tệ (63,3 tỷ USD), tăng 14%. Theo số liệu từ Bộ Thương mại Trung Quốc, tính đến cuối tháng 5/2024, quốc gia tỷ dân này có hơn 120.000 doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới, hơn 1.000 khu công nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới. Các công ty Trung Quốc cũng đang sở hữu hơn 2.500 kho hàng ở nước ngoài với tổng diện tích 30 triệu m2. Trong đó, hơn 1.800 kho hàng chuyên phục vụ thương mại điện tử xuyên biên giới, với tổng diện tích 22 triệu m2.

Có thể so sánh sự trỗi dậy của các nền tảng TMĐT xuyên biên giới này, đặc biệt với sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của Temu và các nền tảng tương tự của Trung Quốc là một cuộc xâm lăng mới của thế kỷ 21. Cuộc xâm lăng này không có tiếng súng, nhưng rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gục ngã vì không thể cạnh tranh với làn sóng hàng giá rẻ tràn ngập thị trường. Người tiêu dùng sẽ được lợi trong ngắn hạn, nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn trong tương lai như: hàng kém chất lượng, khó đổi trả, bị điều hướng bởi các trang mạng xã hội, ngày càng lệ thuộc vào các nền tảng này khi các sản phẩm tương tự trong nước không thể tồn tại được... Khi các doanh nghiệp nhỏ trong nước không thể tồn tại, thì số lượng doanh nghiệp đóng cửa/ phá sản ngày càng tăng, số người thất nghiệp cũng sẽ gia tăng và nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng. Đó là lý do vì sao nhiều quốc gia nhìn nhận sự tăng trưởng nhanh chóng của các nền tảng TMĐT xuyên biên giới này là một mối đe dọa và cần phải tìm ra những giải pháp để bảo hộ các doanh nghiệp nhỏ trong nước.

Trước bối cảnh xâm nhập và phát triển nhanh chóng của Temu và các nền tảng TMĐT xuyên biên giới tương tự, các quốc gia Đông Nam Á đang thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để ứng phó với hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc, đặc biệt là những mặt hàng được kinh doanh thông qua các nền tảng thương mại điện tử. Ví dụ: Malaysia đã áp dụng thuế bán hàng 10% đối với hàng hóa nhập khẩu được mua trực tuyến với giá dưới 500 ringgit (116 USD) vào tháng 1/2024. Tương tự, từ tháng 5/2024, Thái Lan áp dụng thuế giá trị gia tăng (VAT) 7% đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị dưới 1.500 baht (44,76 USD). Đồng thời, thủ tướng Thái Lan cũng chỉ đạo Bộ Thương Mại có biện pháp để hạn chế tình trạng hàng giá rẻ tràn ngập thị trường thông qua TMĐT xuyên biên giới. Chính phủ Indonesia đã lên kế hoạch áp thuế nhập khẩu lên tới 200% đối với nhiều loại hàng hóa bao gồm hàng dệt may, quần áo, giày dép, mỹ phẩm và đồ điện tử... Bộ trưởng Thương mại Indonesia, cho biết trong một cuộc họp báo vào tháng 7/2024 "Nếu Indonesia tràn ngập hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa có thể sẽ phá sản".

Trong khi đó, dường như Việt Nam chưa có động thái gì để đối phó với làn sóng xâm nhập mới của hàng giá rẻ qua các nền tảng TMĐT như Temu. Mọi người vẫn hào hứng với những chủ đề vĩ mô như Chuyển đổi số, CMCN 4.0 hay AI, mà chưa mấy ai nhận ra hiểm họa to lớn đến từ những nền tảng TMĐT xuyên biên giới này. Nhiều đại biểu quốc hội vẫn loay hoay thảo luận những vấn đề dường như chẳng liên quan trực tiếp đến số mệnh của nhiều doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất nhỏ lẻ. Đã đến lúc cần phải gióng lên tiếng chuông cảnh báo trước hiểm họa xâm lăng mới, mà cực kỳ nguy hiểm đối với nền kinh tế quốc gia. Ít nhất chúng ta cũng cần nhận thấy hiểm họa và cần có những chính sách ngăn chặn làn sóng hàng giá rẻ tràn ngập thị trường, và bảo hộ các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất nhỏ trong nước. 

Hãy học những gì các nước bạn trong khu vực Đông Nam Á đã làm trong việc dựng lên các tiêu chuẩn kỹ thuật, hàng rào thuế quan, hỗ trợ các DN nhỏ trong nước với những điều kiện thuận lợi trong việc xuất nhập khẩu và khai thác các nền tảng công nghệ mới để cải thiện hiệu quả vận hàng, giảm các chi phí thủ tục về hải quan, logistics... Muốn phát triển kinh tế đất nước, muốn dân giàu, nước mạnh thì các quan chức, viên chức cần phải tận tụy với trách nhiệm của mình, bảo hộ và hỗ trợ các DN trong nước tồn tại và phát triển, sửa chữa những bất cập về chính sách. Hy vọng chúng ta sẽ có được những lãnh đạo thật sự vì dân, vì nước để có thể tìm được giải pháp đối phó với cuộc xâm lăng không tiếng súng này. Mong lắm thay!

PQ. Trung


Wednesday, March 27, 2024

Sống có lý tưởng - Nền tảng cho một cuộc đời ý nghĩa

Sống có lý tưởng - Nền tảng cho một cuộc đời ý nghĩa

Lý tưởng là ngọn đèn soi đường cho hành động. Có một lý tưởng cao đẹp sẽ giúp mình có một đời sống đẹp đẽ. Người trẻ cần xây dựng cho mình một lý tưởng sống cao đẹp. Ngày nay, chúng ta hay dùng từ “mục tiêu sống”, cũng có ý nghĩa tương tự như vậy. Nhưng lý tưởng thì thường chỉ đến những gì cao rộng, bay bổng, và thường chỉ đến mục tiêu dài hạn của đời người hơn.

Thế nào là sống có lý tưởng?

Lý tưởng là mục tiêu cao đẹp mà con người hướng đến trong cuộc sống. Nó là kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ, hành động và giúp ta có định hướng rõ ràng trong tương lai. Sống có lý tưởng không chỉ giúp ta sống tốt hơn mà còn góp phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ. Vì vậy, mỗi người cần xác định cho mình một lý tưởng sống, một mẫu hình đê noi theo, một phương thức sống và một mục tiêu hành động của đời mình.

Tại sao cần sống có lý tưởng?

  • Có lý tưởng giúp ta có mục tiêu phấn đấu: Khi có mục tiêu rõ ràng, ta sẽ có động lực để học tập, rèn luyện và không ngừng hoàn thiện bản thân.
  • Có lý tưởng giúp ta vượt qua khó khăn: Khi gặp khó khăn, thử thách, lý tưởng sẽ là nguồn sức mạnh giúp ta đứng lên và tiếp tục tiến bước.
  • Có lý tưởng giúp ta sống có ích cho xã hội: Khi ta sống vì một mục tiêu cao đẹp, ta sẽ cống hiến hết mình cho cộng đồng và tạo ra những giá trị tốt đẹp cho xã hội.

Làm thế nào để sống có lý tưởng?

  • Xác định lý tưởng phù hợp với bản thân: Lý tưởng phải xuất phát từ chính trái tim và khả năng của mỗi người. Hãy tự hỏi bản thân mình muốn làm gì, có thể làm gì và có giá trị gì cho xã hội. Hãy đọc nhiều câu chuyện về các tấm gương danh nhân, anh hùng, các nhà khoa học, các bậc đạo sư… để tạo cảm hứng lý tưởng cho bản thân.
  • Lập kế hoạch và hành động: Sau khi xác định được lý tưởng, hãy lập kế hoạch cụ thể để thực hiện. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất và kiên trì thực hiện mỗi ngày. Nếu không có kế hoạch và ý chí thực hiện kế hoạch, mọi lý tưởng cao đẹp có khả năng mãi mãi chỉ là ước mơ viễn vông, và không thể trở thành hiện thực.
  • Học hỏi và rèn luyện: Để đạt được lý tưởng, ta cần học hỏi không ngừng và rèn luyện bản thân ngày càng hoàn thiện. Để hiện thực hóa lý tưởng, con người phải hoàn thiện bản thân và vươn lên theo mục tiêu đã chọn. Học hỏi liên tục chính là chìa khóa để mở cánh cửa tri thức và khai phá những tiềm năng bên trong của mỗi người. Nhờ học hỏi, một người có thể tiến bộ hơn và làm được nhiều việc mà trước đây không thể.
  • Kiên trì và không ngừng nỗ lực: Con đường đến với lý tưởng không hề bằng phẳng. Sẽ có những lúc ta gặp khó khăn, thử thách và muốn bỏ cuộc. Tuy nhiên, hãy kiên trì và không ngừng nỗ lực, bạn sẽ đạt được thành công. Kiên trì và nhẫn nại là chìa khóa cho mọi thành công. Người có ý chí và quyết tâm theo đuổi đến cùng mục tiêu mình đã chọn sẽ xứng đáng được nhận phần thưởng cho những nổ lực mình đã bỏ ra.

Tóm lại, sống có lý tưởng là điều vô cùng quan trọng đối với mỗi người, đặc biệt là các bạn trẻ. Hãy tìm cho mình một lý tưởng cao đẹp và nỗ lực hết mình để thực hiện. Chắc chắn bạn sẽ có một cuộc sống ý nghĩa và thành công. Chúc các bạn trẻ Việt Nam luôn giữ cho mình ngọn lửa nhiệt huyết và sống có lý tưởng!