Lời Phật dạy

"Không làm các việc ác, Siêng làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy!" (Kinh Pháp Cú)

Monday, October 5, 2026

SỐNG TRONG TINH THẦN PHÁP HOA GIỮA THỜI CÔNG NGHỆ

SỐNG TRONG TINH THẦN PHÁP HOA GIỮA THỜI CÔNG NGHỆ

NGUYÊN CẨN

Chúng ta đang sống trong một thời đại “siêu liên kết”(hypertexted). Chưa bao giờ người ta kết nối với nhau nhanh như bây giờ. Với những công cụ như mạng xã hội, như viber, instagram, zalo, facebook,… họ có thể gặp gỡ, trao đổi và kết nối rất nhanh mọi thông tin. Thử tìm một vài góc nhìn để chúng ta cùng “thực hành” tinh thần kinh Pháp Hoa trong bối cảnh công nghệ hôm nay.

Khai mở tri kiến Phật

Trong kinh Pháp Hoa, mục đích cốt lõi là “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” tri kiến Phật. Giữa biển thông tin thật giả lẫn lộn, chúng ta hãy dùng “tuệ giác” để lọc nội dung. Thay vì rơi vào mê hồn trận với những thông tin và thuật toán dẫn dắt đến những tranh cãi, tiêu cực, chúng ta chủ động chọn những dữ liệu nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và trí tuệ. Mỗi lần mở app, hãy tự hỏi: “Thông tin này có giúp mình bớt khổ, thêm vui không?”.

Hành trì “hạnh bất khinh”

Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát (phẩm thứ 20 trong kinh Pháp Hoa) là một trong những chương gây xúc động và có tính ứng dụng thực tiễn mạnh mẽ nhất. Bồ tát Thường Bất Khinh không dùng thần thông hay lý thuyết cao siêu, ngài chỉ thể hiện một thái độ sống. Ngài dạy ta không khinh miệt bất cứ ai, vì ai cũng có khả năng thành Phật. Cái tên nói lên tất cả: “Thường” là luôn luôn, không gián đoạn; “Bất Khinh” là không xem thường. Hạnh nguyện của ngài là gặp bất cứ ai – dù là người tu hành, cư sĩ, hay kể cả những người hung dữ, ngạo mạn – ngài đều cung kính chắp tay thưa: “Tôi rất kính quý các ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì các ngài đều tu hành đạo Bồ tát, sẽ được làm Phật”. Thế nên, chúng ta thường nghe “Tất cả chúng sanh đều có Phật tính”.

Đây là điểm quan trọng nhất của phẩm này: Triết lý “Phật tính” bình đẳng. Thường Bất Khinh Bồ tát không nhìn người khác qua diện mạo, địa vị hay hành vi hiện tại của họ. Ngài nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc đầy sai lầm đó để thấy viên ngọc quý (Phật tính) bên trong mỗi người. Sự thật tuyệt đối là ai cũng có khả năng giác ngộ. Ngài tôn trọng “tương lai” của họ hơn là phán xét “quá khứ” hay “hiện tại” của họ. Ở ngài, ta nhận ra sức mạnh của sự nhẫn nhục và lòng kiên trì. Phẩm kinh mô tả khi ngài nói lời cung kính, thay vì được đáp lại bằng sự tử tế, ngài lại bị mắng chửi, xua đuổi, đánh bằng gậy gộc, ném bằng gạch đá. Đáp lại, ngài không tức giận, không bỏ cuộc. Ngài chỉ đứng xa ra và tiếp tục kêu lớn lời cung kính đó. Đây là đỉnh cao của nhẫn nhục. Ngài hiểu rằng sự giận dữ của đối phương là do họ chưa nhận ra giá trị thật của chính họ. Ngài nhẫn nhục không phải vì yếu thế, mà vì lòng bi mẫn quá lớn. Nhờ công hạnh này, khi lâm chung, Bồ tát Thường Bất Khinh nghe được kinh Pháp Hoa trên không trung, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được thanh tịnh, tăng thêm thọ mạng và cuối cùng thành Phật. Quan trọng hơn, những người từng ném đá, mắng chửi ngài sau này cũng nhờ nhân duyên đó mà được ngài hóa độ.

Để sống Pháp Hoa theo phẩm Thường Bất Khinh, chúng ta phải chống lại thứ văn hóa phán xét chủ quan. Trong thời đại công nghệ qua mạng xã hội, chúng ta rất dễ “khinh” một người qua một dòng trạng thái, một comment hay một hành động sơ suất. Hạnh Bất Khinh dạy ta dừng lại 3 giây trước khi chỉ trích, để nhớ rằng họ cũng là một con người đang học cách trưởng thành. Thứ đến, chúng ta phải tôn trọng chính mình: Bạn không thể “bất khinh” người khác nếu bạn vẫn đang tự ti hay khinh rẻ bản thân. Hãy tin vào chính mình trước.

Phải tìm cách hóa giải xung đột trong chính chúng ta. Khi đối mặt với sự thù ghét, thay vì đáp trả bằng thù ghét (vốn chỉ làm lửa cháy thêm), hãy đáp trả bằng sự điềm tĩnh và tôn trọng. Đó là cách duy nhất để chuyển hóa nghịch duyên thành thuận duyên.

Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
(Pháp Cú, phẩm Song Yếu, câu 5)

Phải giữ chánh ngữ trước những sóng gió của dư luận là một việc khó khi ta dễ bị cuốn theo xu hướng (trend) để sỉ nhục hay phê phán ai đó không giống như mình nghĩ, và khi đó tránh rơi vào “bão tố truyền thông” để có thể phải ngậm ngùi ân hận. Trong kinh Lời Nói, đức Phật giảng 5 yếu tố của một lời nói thiện lành như sau: “Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những bậc hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm? Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời đem đến lợi ích, nói với từ tâm”.

Phẩm Thường Bất Khinh dạy ta tin vào con người. Phẩm chất của người biết sống “thiện lành” không nằm ở kiến thức uyên bác, mà nằm ở chỗ chúng ta có thể cúi đầu trước một người đang lầm lỗi với sự kính trọng chân thành. Trên không gian ảo, nơi người ta dễ dàng buông lời nhục mạ mang tính chất sát thương qua bàn phím, việc sống Pháp Hoa chính là không tham gia vào “bạo lực mạng”(cyberbullying). Hãy nhìn những “comment” tiêu cực bằng sự cảm thông, hiểu rằng họ cũng đang có những nỗi khổ riêng. Giữ một thái độ tôn trọng với mọi cư dân mạng khác chính là đang thực hành hạnh Bất Khinh.

Biến Công nghệ thành “Phương tiện” (Upaya)

Trước đây, Đức Phật dùng vô số phương tiện để độ sinh. Ngày nay, công nghệ chính là phương tiện quyền biến nhất. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Kyoto vừa công bố một robot hình người mang dáng dấp tu sĩ, tên là Buddharoid, được thiết kế nhằm đưa ra những lời hướng dẫn cho sự tu tập và đối thoại Phật giáo đến với quần chúng, trong bối cảnh Nhật Bản đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số và sự suy giảm nghiêm trọng của đội ngũ tăng sĩ. Tuy vậy, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng Buddharoid không nhằm thay thế tăng sĩ đã thọ giới, mà trước hết chỉ là một nền tảng nghiên cứu. Nó có thể hỗ trợ các công việc thường nhật hoặc cung cấp sự tư vấn tinh thần cho những cộng đồng khan hiếm Tăng lữ. Một số học giả cho rằng Phật giáo, với những tư tưởng cốt lõi như vô thường và vô ngã (anatta) có thể mở ra một cách nhìn đặc biệt về trí tuệ nhân tạo – không xem như một “cái tôi” độc lập, mà như một hiện tượng duyên sinh, từ đó giúp chúng ta suy ngẫm lại về bản ngã, ý thức và vai trò của con người trong đời sống tâm linh (theo Tuần báo Giác Ngộ, số 1342, tháng 3, 2026).

Chúng ta có thể ứng dụng công nghệ để hành thiền, như là nghe pháp thoại khi đi tàu xe, hay dùng AI để tối ưu hóa công việc nhằm dành ra 15 phút tĩnh tâm mỗi ngày. Công nghệ giúp ta kết nối vạn vật, vậy hãy dùng nó để kết nối tình thân và lan tỏa những giá trị tử tế.

Thực hiện “chủ nghĩa tối giản kỹ thuật số” (digital minimalism): Lên lịch cho những khoảng thời gian cố định, có chủ đích để rời xa màn hình để cải thiện sự tập trung, chất lượng giấc ngủ và các kết nối trực tiếp.

Trở thành công dân số trách nhiệm (responsible digital citizens): Sử dụng tiếng nói và nền tảng của bạn để tạo ra thay đổi tích cực.

Kết nối (networking) xây dựng các mối quan hệ chân thành, cùng có lợi, chứ không chỉ là thu thập danh sách liên lạc. Hãy tìm kiếm những người cố vấn, những bậc thầy, nói chuyện với những người trong lĩnh vực bạn ngưỡng mộ và thực hành nghệ thuật trò chuyện trực tiếp.

Nâng cao sức khỏe tinh thần và sự an tĩnh (mental wellbeing). Bằng việc học cách nói “không” với những cam kết làm cạn kiệt năng lượng hoặc làm quá tải lịch trình của bạn.

Thực hành lòng trắc ẩn với bản thân: Thế giới đặt áp lực to lớn lên bạn phải thành công nhanh chóng. Hãy từ chối áp lực của chủ nghĩa hoàn hảo. Nhìn ra sự kết nối tương hỗ (interconnectedness) của vạn vật qua mạng lưới internet trong tinh thần Nhất thừa của Pháp Hoa và nhận ra giá trị thiêng liêng ngay trong từng khoảnh khắc hiện tại, dù đang làm việc trực tuyến. (Hiện Bảo Tháp)

Sống Pháp Hoa giữa thời đại 6.1 là khi bạn cầm điện thoại trên tay, nhưng lòng không bị cuốn theo những thông báo (notifications), là khi bạn làm chủ công nghệ chứ không để công nghệ làm chủ tâm thức mình. Chúng ta phải có những kỹ năng sống trong thời đại, như: (a) Xác minh thông tin, trước khi chia sẻ thông tin, hãy kiểm tra tính xác thực của nó; (b) Đọc và nghiên cứu đa chiều, nghiên cứu từ nhiều nguồn tin khác nhau và có quan điểm khác nhau để có cái nhìn toàn diện về một vấn đề; (c) Tính logic, nghĩa là sử dụng khả năng suy luận để xem xét thông tin một cách khách quan; (d) Không chia sẻ thông tin mà không kiểm chứng.

Ngoài ra, chúng ta phải trang bị kiến thức về phân biệt thông tin, nhận dạng thông tin sai lệch và xác định nguồn tin đáng tin cậy. Điều này, giúp bạn trở nên nhạy bén và kháng cự với thông tin sai lệch.

Tóm lại, sống Pháp Hoa nghĩa là tin vào Phật tính nơi mình. Từ đó, xây dựng nội lực để vững bước theo tinh thần Bồ tát đạo – sống giữa đời mà không ô nhiễm. Tinh thần Pháp Hoa không khuyến khích ta xa lánh cuộc đời, mà khuyến khích dấn thân vào để độ đời. Điều đó, cũng có nghĩa là sống với tri kiến “Nhất thừa” khi hiểu mọi người đều đang trên con đường giác ngộ. Tâm chúng ta không còn phân biệt tôn giáo, địa vị, trình độ, và trở nên bao dung hơn, tôn trọng phẩm giá người khác. Được như thế, chúng ta ứng dụng Pháp Hoa giữa lòng thời đại không phải chỉ tụng kinh, đi chùa mà là dùng phương tiện và trí tuệ phù hợp thời đại như đóa sen không cần rời bùn mới nở. Người học Pháp Hoa khi nhận ra chánh pháp, tự tìm về bến giác giữa nhân gian.

Trích từ Phật Học Từ Quang Tập 56 Tháng 4 Năm 2026 (PL. 2570)

Monday, September 14, 2026

Quốc vương Hữu Đức

 


Quốc vương Hữu Đức


Trong thời quá khứ vô lượng kiếp xa xưa, có đức Phật ra đời hiệu là Hoan-Hỷ Tăng-Ích Như-Lai. Lúc bấy giờ đất nước thái bình thạnh trị, dân chúng ấm no hạnh phúc an vui vô cùng, chẳng khác hạnh phúc của chư Bồ-Tát cõi nước Cực-Lạc. Ðức Phật Hoan-Hỷ Tăng-Ích trụ ở đời rất lâu, đến khi cơ duyên độ sanh viên mãn, Ngài nhập Niết-bàn ở thành Câu-Thi-Na, rừng Ta-La Song-Thọ. Sau khi Phật Tăng-Ích nhập Niết-bàn, chánh pháp còn ở đời rất lâu đến vô lượng ức năm. 

Vào lúc chánh pháp chỉ còn 40 năm cuối, bấy giờ có vị tỳ-kheo tên là Giác-Ðức trì giới thanh tịnh, đồ chúng dự nghe đông đảo. Tỳ-kheo Giác-Ðức khuyên cấm các tỳ kheo không được chứa nuôi tôi tớ, trâu bò, heo dê cùng những vật phi pháp. Ðiều nầy khiến cho các tỳ-kheo phá giới oán ghét tìm cách phá phách hãm hại tỳ-kheo Giác-Ðức. Lúc bấy giờ Quốc-vương Hữu-Ðức biết được sự việc như vậy. Vì lòng hộ trì chánh pháp, nên nhà vua đem quân lính đến bảo vệ tỳ-kheo Giác-Ðức an toàn thoát khỏi nạn.

Bọn tỳ-kheo phá giới kia tức giận gây chiến với nhà vua, làm cho nhà vua bị thương nặng. Thấy cảnh đau lòng, tỳ-kheo Giác-Ðức an ủi nhà vua rồi khen: "Lành thay! Lành thay! Vua vì hộ trì chánh pháp mà không tiếc thân mạng. Ðời sau thân vua sẽ là vô lượng pháp khí". Nghe xong lời tán thán ấy, nhà vua hoan hỷ thân tâm nhẹ nhàng, rồi tắt thở, thần thức sanh về cõi Phật A-Súc làm đệ tử thứ nhất của Phật nầy. 

Quân lính theo vua chiến đấu với bọn ác tăng và những người tùy hỷ khen ngợi tinh thần vị pháp vong thân của nhà vua đều được tâm Bồ-đề bất thối chuyển, sau khi chết đều được sanh về cõi Phật A-Súc. Còn tỳ-kheo Giác-Ðức sau khi mạng chung cũng được sanh về cõi Phật A-Súc làm đệ tử thứ hai trong chúng Thanh-văn của đức Phật nầy".

Khi thuật câu chuyện trên đây xong, đức Thích-Ca Như-Lai gọi ngài Ca-Diếp nói: "Nầy Ca-Diếp! Vị Quốc-vương Hữu-Ðức kia chính là tiền thân của ta. Còn tỳ-kheo Giác-Ðức chính là tiền thân của Ca-Diếp đó vậy.

Bài học: Ở thời mạt pháp, nơi mà ma chướng nhiều hơn thuận duyên, người tu cần nổ lực tinh tấn trong việc tu tập đạo pháp và bảo vệ chánh pháp. Trong câu chuyện này, nhà vua Hữu Đức vì hộ pháp mà phải mất mạng, nhưng đó là cái chết đẹp, mang lại sự tái sanh ở cảnh giới tốt lành. Tỳ kheo Giác Đức là biểu tượng đáng khen ngợi cho người tu hành, vì đã khéo léo hộ trì, giữ gìn chánh pháp cho đời sau. Chúng ta đang sống trong thời mạt pháp, cần nổ lực tu tập, vượt qua chướng duyên, để có thể hoằng pháp, lợi sanh và tránh những ma lực, chướng ngại của thời đại.


(Nguồn: Những mẩu chuyện PG dành cho thiếu nhi - tập 3 - Đức Kiên)

Thursday, September 3, 2026

THI KỆ VỀ TIỀN BẠC

THI KỆ VỀ TIỀN BẠC

Phần lớn bị bạc tiền mờ trí
Mấy ai người chủ trị được tâm
Nghèo thì bị bạc làm câm
Giàu thì bị của giam cầm chung thân,

Xưa nay chốn hồng trần như thế
Hơn thua nhau thị ở đồng tiền,
Giòng đời xuôi ngược đảo điên,
Đều do các thứ bạc tiền mà ra,

Thứ tiền bạc người ta tạo nó,
Rồi người ta lại khổ vì tiền,
Không tiền, nói phải cũng điên,
Có tiền, nói quấy cũng thiên nguời ừ.

Trâu bò thì bị người xỏ mũi
Người bị tiền bạc cỡi trên lưng,
Trâu bò chỉ khổ xác thân,
Người thì xác thịt tinh thần khổ luôn.

Khổ đến chết không buông được nó,
Mà người đời lấy đó làm vinh,
Tiền xem trọng, nghĩa xem khinh,
Ngày nay thế giới chỉ tin đồng tiền,

Tiền và bạc không yên được chỗ,
Nay tay này mai ở tay kia,
Người thường vì nó rẽ chia,
Gây ra đổ máu đầm đìa khắp nơi,

Chủ được nó, là đời hạnh phúc,
Nó chủ mình, là mất tự do,
Làm ra để giúp để cho,
Chớ gom góp để bo bo giữ đời,

Đem giúp đỡ cho người chẳng mất,
Cứ bo bo giữ cất, không còn,
Vật mòn biết dụng, không mòn,
Tiền đừng nên bạc, nên tròn nghĩa ân,

Ham tiền bị hư thân lắm kẻ,
Mến bạc, nhiều người nhẹ giá danh,
Gái thì bán mất tiết trinh,
Trai thì trộm cướp hoặc sanh gian hùng,

Thân cho mấy khi lòng mến bạc,
Tình thân kia cũng nát như tương,
Tự mình bóp chết tình thương,
Vẫn chưa sáng mắt bởi vương bạc tiền,

Tiền dùng đúng, tiền hiền như Phật,
Bạc xài lầm, bạc ác hơn ma,
Phật ma cũng tại người ta,
Chứ tiền bạc nó vốn là vô tri,

Nhiều tiền kiếp Mâu Ni giàu có,
Bạc tiền đâu làm khổ được ông,
Nhưng vì nhờ có tiền đồng,
Giúp ông bố thí khắp trong dân làng,

Đó là một trong ngàn công đức,
Phật Thích Ca chất chứa từ xưa,
Dùng tiền như hạn cho mưa,
Biển non đo cũng chẳng vừa đại ân,

Phật xưa cũng xác phàm cõi tạm,
Người cũng tình cũng cảm như ai,
Thế mà người chứng Như lai,
Nhờ lòng bố thí nhờ hay nhân từ.

Phật làm thế nay người làm thế,
Tất nhiên là ngồi kế Phật ngài,
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Tiền tài chớ để nó sai khiến mình,

Ai có của bỉ khinh cũng mặc,
Đừng vì tiền gay gắt với ai,
Có ra thì đỡ xây xài,
Không thì nhịn chiụ chớ cay đắng lòng,

Nghèo thì nhớ lòng trong dạ sạch,
Giàu thì nên bố đức thi ân,
Có dư chớ hưởng riêng thân,
Nên cho kẻ khác lây phần ấm no.

Được như vậy, được kho công đức,
Sống đời đâu khổ cực vì đời,
Trong tâm thường được thảnh thơi,
Tuy trong cõi tục mà đời thần tiên,

Tiên với tục dính liền mặt trái,
Để vậy phàm, lộn lại là tiên,
Cũng thời sử dụng đồng tiền,
Kẻ lo quần chúng, kẻ riêng lo mình.

Lo quần chúng là tình Tiên Phật,
Lo riêng mình là chất phàm nhân,
Tình Tiên Phật, hết trầm luân,
Chất phàm nhân, tất còn thân luân hồi,

Phật phàm có thế thôi đâu khó,
Làm hay không việc đó tại người,
Người đâu, bóng đó không rời,
Ngoái đầu, ngó lại mặt trời thấy ngay.

Trích trong tập thơ “Đường giải thoát” - Ngài Thanh Sĩ

Monday, August 24, 2026

Mùa Vu Lan Báo Hiếu



Mùa Vu Lan Báo Hiếu

Tháng bảy Vu Lan lại đến
Nhớ về ơn đức mẹ cha
Công ơn sinh thành, thương mến
Muôn phần chẳng thể nói ra

Chúng sanh luân hồi muôn kiếp
Kiếp nào cũng có mẹ cha
Nghĩa ân - trả vay sao kịp
Huống là bất hiếu khó tha...

Mỗi người trong đời ta biết
Âu đều cha mẹ thân bằng
Nghiệp duyên - gặp hay ly biệt
Cũng đều ân nghĩa - biết chăng?

Vậy nên sống sao cho đáng
Lo tu đền đáp mẹ cha
Hồi hướng cửu huyền quá vãng
Đời này và những đời qua

Chắp tay cúi đầu khấn nguyện
Đem lòng sám hối thiết tha
Cầu an - mẹ cha, thân quyến
Siêng tu, biển khổ thoát ra...

Nam mô Địa tạng vương Bồ tát
Nam mô Đại hiếu Mục kiền liên Bồ tát

Đức Kiên

Sunday, August 16, 2026

Gương hiếu hạnh ngài Mục Kiền Liên

 


Gương hiếu hạnh ngài Mục Kiền Liên

VÂN HÀ

Thuở tiền kiếp làm nghề đánh cá
Nhờ đại duyên nên đã gặp lành…
Bích chi Phật, phát tâm thành
Quy y từ đó tín thành thiện tâm.
Đổi nghề khác làm ăn sinh sống
Gieo nhân lành, quả trổ về sau
Hiện tiền gặp Phật chứng mau
Đại A la hán, phép màu thần thông.

…

Cũng ngày ấy trên đường hoằng pháp
Cùng Thế Tôn khất thực thường khi
Thấy xương trắng thật lạ kỳ
Thế Tôn đảnh lễ, ven mi lệ tràn.
Cả tứ chúng ngỡ ngàng e ngại
Cúi xin Ngài giải tỏa nguồn cơn:
Cớ sao đảnh lễ, Thế Tôn?
Xương kia lẫn lộn bởi cơn cớ gì?

Đức Phật tổ từ bi giải thích:
“Đống xương này, xương của chúng sinh
Nhiều đời nhiều kiếp phiêu linh
Là thân quyến thuộc của mình kiếp xưa.
Ta đảnh lễ cũng chưa tạ hết
Ơn sinh thành, dưỡng dục cù lao
Mẹ, cha từ những kiếp nào
Bây giờ trông thấy lệ trào xót xa!
Xương trắng kia đúng là nam tử
Sắc thâm đen là nữ đó thôi
Bởi sinh con, mẹ dưỡng nuôi
Máu kia thành sữa mẹ vui trong lòng.

…

Nghe Thế Tôn không quên từ mẫu
Mục Kiền Liên nghĩ: Dẫu bây giờ…
Mẹ cha dù vẫn kính thờ
Nhưng đà khuất bóng, biết giờ nơi đâu?
Lòng chí hiếu khấn cầu Tam bảo
Hiển thần thông tìm mẹ Thanh Đề
Mẹ ngài ác nghiệp gần kề
Thác sanh địa ngục A Tỳ khổ thay!
Thương mẹ đói thảo ngay hiếu tử
Mục Kiền Liên dâng thử cơm chay
Mẹ người chụp vội ăn ngay
Hỡi ôi, hóa lửa cũng hoài phí thôi!
Bụng tuy đói… nhưng rồi đói lả
Cơm chưa ăn đã hóa thành than
Chỉ vì hiện kiếp vương mang
Khinh thường tăng chúng, phô phang tài hèn.
Nghiệp quả ấy nhiều phen tích trữ
Thác đi rồi nghiệp dữ còn theo
Sân si, keo bẩn, gieo neo
Ác tâm chưa dứt còn đeo đẳng hoài.

Thương mẹ già đêm ngày ray rứt
Mục Kiền Liên cầu Đức Bổn sư:
Làm sao giúp mẹ giải trừ
Tiêu tan tai ách, an cư cõi lành?
Đức Thế Tôn không đành lòng thấy
Chúng sanh kia dù quấy kiếp xưa
Bây giờ khổ mấy cho vừa?
Dạy ngài cứ độ đến mùa an cư.
Rằm tháng Bảy nhờ Sư tế độ
Lập đàn tràng cứu khổ hồn oan
Là ngày tự tứ chư Tăng
Mười phương Tam bảo giải nàn chúng sanh.

Nghe Thế Tôn vì mình chỉ dẫn
Mục Kiền Liên ngơ ngẩn khôn cầm…
Lệ rơi mẫu tử tình thâm
Nguyện cầu cho mẹ, Pháp âm vang rền.
Nhờ con hiếu mẹ liền ra khỏi
Chốn ngục tù khổ ải trầm luân
Phúc lành cho cả chúng sinh
Đều ra khỏi chốn u minh, đọa đày.

Mùa Vu lan là ngày đáng nhớ
Mục Kiền Liên đại hiếu thuở xưa
Nhờ ân đức ấy bây giờ
Hằng năm đều nhớ đến mùa Vu lan.
Khắp nơi chốn rộn ràng nô nức
Lên chùa xin tổ chức nguyện cầu
Hiện tiền cha mẹ sống lâu
Những ai đã khuất qua mau khổ nàn.
Thật đúng nghĩa Vu lan: Báo hiếu
Cũng là ngày tự tứ chư Tăng
Mười phương Tam bảo thường hằng
Khắp nơi còn ánh đạo vàng mãi soi…

Wednesday, August 5, 2026

Bà la môn Darìmukha 

 

Bà la môn Darìmukha

Một thuở nọ, vua Magadha trị vì tại thành Vương Xá. Bồ-tát được sinh làm con của chánh hậu, được đặt tên là vương tử Brahmadatta. Vào ngày ngài ra đời, vị tế sư của hoàng gia cũng sinh một nam tử, diện mạo tuấn tú, vì thế được đặt tên là Darìmukha. Cả hai cùng lớn lên trong cung đình và trở thành bạn thân. Năm mười sáu tuổi, hai vị đến Takkasilà học đủ mọi môn nghệ thuật. Sau đó muốn ứng dụng các kiến thức vào thực tiễn và tìm hiểu phong tục trong nước, hai vị du hành qua nhiều thành phố, thôn làng khắp mọi miền.

Vì vậy, hai vị đến Ba-la-nại trú ở trong một ngôi đền và hôm sau vào kinh thành khất thực. Có một nhà trong kinh thành đã nấu xong cháo gạo và chuẩn bị chỗ ngồi để cúng dường phần thức ăn cho các Bà-la-môn. Khi họ thấy hai nam tử này khất thực, họ nghĩ: “Các Bà-la-môn đã đến”, liền mời vào và trải một tấm khăn trắng trên ghế của Brahmadatta (theo phong tục Ấn Độ, điều này báo hiệu Brahmadatta sẽ làm vua) và một thảm đỏ dưới chân Darìmukkha.

Thời ấy, vua Ba-la-nại đã băng hà đã bảy ngày. Vị tế sư hoàng gia làm lễ hỏa táng xong liền đưa vương xa ra khỏi thành suốt bảy ngày vì chưa có ai kế vị ngai vàng. Vương xa được bốn đạo quân xa pháo mã tượng hộ tống và âm nhạc của hàng trăm nhạc khí trổi dậy vang lừng rời kinh thành và đến cổng ngự viên, nơi hai vị đang trú.

Darìmukha nghe tiếng nhạc, nghĩ thầm: “Vương xa đến rước thân hữu ta đó, ngài sẽ lên ngôi vua hôm nay, và phong ta chức đại tướng, song ta có nên làm người thế tục chăng? Ta muốn đi ngay làm ẩn sĩ khổ hạnh”. Vì thế không nói gì với Brahmadatta, chàng chạy sang một bên đứng ẩn mình.

Vị tế sư ngừng xe trước cổng ngự viên, vừa bước vào thấy Brahmadatta đang nằm trên bảo tọa của hoàng gia. Vừa quan sát các tướng tốt trên chân ngài, ông nghĩ: “Ngài có đủ đức độ và xứng đáng làm vua cả bốn đại châu cùng với hai ngàn hải đảo vây quanh. Song lòng can đảm của ngài ra sao đây?”. Vì thế ông ra lệnh mọi nhạc khí đồng trổi dậy hết sức inh ỏi. Brahmadatta thức dậy, giở tấm khăn ra và thấy đám đông. Rồi che mặt lại, ngài nằm xuống thêm chút nữa, xong trở dậy ngồi xếp bằng trên sàng tọa trong lúc xe vừa dừng lại.

Vị tế sư quỳ xuống, thưa:

– Tâu Chúa thượng, quốc độ được nhường cho Chúa thượng.

– Sao? Vua Ba la nại không có ai kế vị à?

– Tâu Chúa thượng, không.

– Thế thì tốt lắm.

Vậy là ngài nhận lời thỉnh cầu và hội chúng làm lễ quán đảnh rảy nước thánh lên đầu ngài tại ngự viên. Trong giờ phút đại vinh quang ấy, ngài quên bẵng Darìmukha, ngài ngự lên vương xa đi giữa đám quần thần uy nghi diễu vòng quanh kinh thành. Sau đó dừng lại trước cung môn, ngài chỉ định vị trí của các triều thần, xong bước lên lầu thượng.

Cùng lúc ấy, Darìmukha thấy ngự viên đã vắng người liền bước ra ngồi trên bảo tọa trong vườn. Một ngọn lá khô rơi xuống trước mặt ngài. Thấy rõ các quy luật lão tử, ngài bừng ngộ Tam pháp ấn (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và chứng đắc quả vị Ðộc Giác Phật, liền reo mừng hoan hỷ làm vang dậy cả cõi trần. Ngay lập tức các đặc tính của một phàm nhân biến mất khỏi thân Ngài, một bình bát và một tấm y kỳ diệu từ cõi thiên rơi xuống khoác vào người và Ngài có đủ tám món cần thiết cùng tứ oai nghi hoàn thiện của một Sa-môn cả trăm tuổi. Rồi nhờ thần lực, Ngài bay qua không gian đến tận động Nandamùla, nơi an trú của các vị Ðộc Giác Phật tại miền Tuyết Sơn.

Phần Brahmadatta trị nước rất chân chánh. Song cảnh đại vinh quang đã làm ngài say đắm suốt bốn mươi năm ròng. Ngài quên hẳn Darìmukha. Ðến năm thứ bốn mươi ấy ngài nhớ lại bạn và tự bảo: “Trẫm có thân hữu tên là Darìmukha, nay vị ấy ở đâu?”. Ngài mong ước gặp lại bạn. Từ đó về sau, ngay trong hậu cung hay giữa quần thần, ngài thường bảo:

– Thân hữu Darìmukha nay ở đâu? Trẫm sẽ ban vinh hoa phú quý cho ai báo tin với trẫm về nơi bạn hiền cư trú.

Lại mười năm nữa trôi qua từ khi ngài thỉnh thoảng nhớ đến bạn. Còn Tôn giả Darìmukha đã trở thành Ðộc Giác Phật, sau năm mươi năm, suy xét lại và biết bạn cũng đang nhớ đến Ngài, liền nghĩ: “Nay bạn ta đã già và tăng thêm đàn con cháu, ta muốn đi thuyết Pháp và truyền giáo cho bạn”.

Nhờ thần lực, Ngài bay qua không gian và hạ mình xuống vườn ngự uyển, ngồi xuống bảo tọa như một bức tượng vàng ròng. Người giữ vườn thấy Ngài, đi đến hỏi:

– Thưa Ngài, Ngài từ đâu đến?

– Từ động Nandamùlaka.

– Thế Ngài là ai?

– Hiền giả, ta là Phật Ðộc Giác Darìmukha.

– Thưa Ngài, thế Ngài biết đức vua của chúng tôi chăng?

– Ta biết. Ngài là thân hữu từ thời ta còn ở thế tục.

– Thưa Ngài, đức vua ước ao hội kiến Ngài, tôi xin đi trình báo đức vua rằng Ngài đã đến.

Người làm vườn liền đi trình vua rằng Tôn giả Darìmukha đã đến và hiện đang ngồi trên thạch tọa. Vì vậy ngài ngự lên vương xa cùng đám tùy tùng hộ tống đông đảo đến ngự viên, cung kính đảnh lễ vị Ðộc Giác Phật và ngồi xuống một bên. Vị Ðộc Giác Phật bảo:

– Này Brahmadatta, Ðại vương nên trị nước chân chánh, đừng bao giờ theo ác đạo hay đàn áp dân chúng vì tiền bạc. Hãy làm mọi thiện sự với lòng nhân từ.

Và sau đó khi ân cần đáp lễ, Ngài bảo thêm:

– Này Brahmadatta, nay Ðại vương đã già đã đến lúc Ðại vương nên từ giã dục lạc và xuất gia.

Như thế, Ngài thuyết Pháp và ngâm vần kệ đầu:

Dục lạc chỉ là đám bùn dơ bẩn
“Nỗi kinh hoàng ba gốc” được gọi là,
Ta bảo rằng khói bụi với sương sa,
Hãy bỏ chúng, xuất gia lìa thế tục.

Nghe vầy, vua ngâm vần kệ giải thích ngài vẫn đang bị tham dục ràng buộc:

Trẫm say đắm, lún sâu bùn tham dục,
Bà-la-môn, dục lạc đáng kinh thay,
Song yêu đời, trẫm không thể bỏ ngay,
Trẫm xin nguyện suốt đời làm thiện sự.

Sau đó, mặc dù Bồ-tát bảo: “Ta không muốn thọ giới xuất gia”, Tôn giả Darìmukha cũng không bài bác vua và khích lệ lần nữa:

Ai bác bỏ lời bạn hiền khuyên nhủ,
Thương xót và mong bạn tránh đọa đày,
Cứ tưởng rằng: “Cõi thế tốt lành thay”,
Sẽ không dứt tái sinh đầu thai mãi.

Nơi đày đọa đáng kinh: phần kẻ ấy
Ðầy vật dơ, bị người thiện chê bai,
Kẻ tham kia dục vọng chẳng hề rời,
Thân xác chứa ngập đầy mầm nhục dục.

Như vậy, Ðộc Giác Phật Darìmukha nêu rõ sự khổ đau do nhập thai và vội vàng bày tỏ nỗi khổ đau vì sinh sản qua một vần kệ nữa:

Ðầu máu mủ, vật hôi tanh thế tục,
Mọi hữu tình đều phải chịu tái sinh,
Những vật gì xúc chạm suốt đời mình,
Chỉ cốt để đem khổ đau trần giới.
Ta nói lên những điều ta trông thấy,
Chứ không lo người khác nói ta nghe,
Ta nhớ rành các đời kiếp xưa kia.

Vị Ðộc Giác Phật bày tỏ mọi khổ đau của tham dục và làm vua hiểu lời Ngài dạy xong, liền nói:

– Thưa Ðại vương, dù Ðại vương có thọ giới xuất gia hay không, ta cũng đã nói hết nỗi khốn cùng của tham dục và hạnh phúc của đời xuất gia, xin Ðại vương hãy tinh cần.

Rồi giống như một con kim nga vương, Ngài bay bổng lên không, lướt mây về đến động Nandamulaka. Còn bậc Ðại Sĩ đảnh lễ với mười ngón tay chắp vào nhau, và cúi đầu đứng yên cho tới khi Tôn giả Darìmukha khuất bóng. Sau đó vua từ bỏ dục lạc, trong lúc quần chúng đông đảo than khóc kêu gào, ngài đi đến vùng Tuyết Sơn dựng một lều lá và thọ giới làm ẩn sĩ. Chẳng bao lâu ngài thành đạt các Thắng trí và các Thiền chứng, rồi lúc mạng chung, Ngài được sinh lên cõi Phạm thiên.

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật, sau đó nhiều Tỷ-kheo đắc sơ quả cùng các quả vị kia, và Ngài nhận diện Tiền thân: thời ấy nhà vua chính là ta.

Bài học: Đây là một chuyện tiền thân của đức Phật, thuở ấy ngài vì ham mê vinh hoa của một nhà vua, mà quên mất việc tu tập. Nhờ người bạn là Bà la môn Darimukha, đã tu tập đắc đạo nhắc nhở, mà ngài có nhân duyên để thoát khỏi ham mê vinh hoa, phú quý giả tạm, và trở về con đường tu tập, đạo đức, để đạt đến an lạc, giải thoát. Ở đời, mỗi người cần có duyên để có thể hạ quyết tâm tu tập, giải thoát. Trong chuyện này, bà la môn Darimukha nhờ nhân duyên chiếc lá rơi mà quyết tâm tu tập thành Độc giác Phật. Còn Bồ tát nhờ nhân duyên người bạn cũ nhắc nhở mà biết quay về với chánh pháp.

(Nguồn: Những mẩu chuyện Phật giáo cho thiếu nhi – tập 3 – Đức Kiên)