Lời Phật dạy

"Không làm các việc ác, Siêng làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy!" (Kinh Pháp Cú)
Showing posts with label duckien. Show all posts
Showing posts with label duckien. Show all posts

Monday, August 24, 2026

Mùa Vu Lan Báo Hiếu



Mùa Vu Lan Báo Hiếu

Tháng bảy Vu Lan lại đến
Nhớ về ơn đức mẹ cha
Công ơn sinh thành, thương mến
Muôn phần chẳng thể nói ra

Chúng sanh luân hồi muôn kiếp
Kiếp nào cũng có mẹ cha
Nghĩa ân - trả vay sao kịp
Huống là bất hiếu khó tha...

Mỗi người trong đời ta biết
Âu đều cha mẹ thân bằng
Nghiệp duyên - gặp hay ly biệt
Cũng đều ân nghĩa - biết chăng?

Vậy nên sống sao cho đáng
Lo tu đền đáp mẹ cha
Hồi hướng cửu huyền quá vãng
Đời này và những đời qua

Chắp tay cúi đầu khấn nguyện
Đem lòng sám hối thiết tha
Cầu an - mẹ cha, thân quyến
Siêng tu, biển khổ thoát ra...

Nam mô Địa tạng vương Bồ tát
Nam mô Đại hiếu Mục kiền liên Bồ tát

Đức Kiên

Wednesday, August 5, 2026

Bà la môn Darìmukha 

 

Bà la môn Darìmukha

Một thuở nọ, vua Magadha trị vì tại thành Vương Xá. Bồ-tát được sinh làm con của chánh hậu, được đặt tên là vương tử Brahmadatta. Vào ngày ngài ra đời, vị tế sư của hoàng gia cũng sinh một nam tử, diện mạo tuấn tú, vì thế được đặt tên là Darìmukha. Cả hai cùng lớn lên trong cung đình và trở thành bạn thân. Năm mười sáu tuổi, hai vị đến Takkasilà học đủ mọi môn nghệ thuật. Sau đó muốn ứng dụng các kiến thức vào thực tiễn và tìm hiểu phong tục trong nước, hai vị du hành qua nhiều thành phố, thôn làng khắp mọi miền.

Vì vậy, hai vị đến Ba-la-nại trú ở trong một ngôi đền và hôm sau vào kinh thành khất thực. Có một nhà trong kinh thành đã nấu xong cháo gạo và chuẩn bị chỗ ngồi để cúng dường phần thức ăn cho các Bà-la-môn. Khi họ thấy hai nam tử này khất thực, họ nghĩ: “Các Bà-la-môn đã đến”, liền mời vào và trải một tấm khăn trắng trên ghế của Brahmadatta (theo phong tục Ấn Độ, điều này báo hiệu Brahmadatta sẽ làm vua) và một thảm đỏ dưới chân Darìmukkha.

Thời ấy, vua Ba-la-nại đã băng hà đã bảy ngày. Vị tế sư hoàng gia làm lễ hỏa táng xong liền đưa vương xa ra khỏi thành suốt bảy ngày vì chưa có ai kế vị ngai vàng. Vương xa được bốn đạo quân xa pháo mã tượng hộ tống và âm nhạc của hàng trăm nhạc khí trổi dậy vang lừng rời kinh thành và đến cổng ngự viên, nơi hai vị đang trú.

Darìmukha nghe tiếng nhạc, nghĩ thầm: “Vương xa đến rước thân hữu ta đó, ngài sẽ lên ngôi vua hôm nay, và phong ta chức đại tướng, song ta có nên làm người thế tục chăng? Ta muốn đi ngay làm ẩn sĩ khổ hạnh”. Vì thế không nói gì với Brahmadatta, chàng chạy sang một bên đứng ẩn mình.

Vị tế sư ngừng xe trước cổng ngự viên, vừa bước vào thấy Brahmadatta đang nằm trên bảo tọa của hoàng gia. Vừa quan sát các tướng tốt trên chân ngài, ông nghĩ: “Ngài có đủ đức độ và xứng đáng làm vua cả bốn đại châu cùng với hai ngàn hải đảo vây quanh. Song lòng can đảm của ngài ra sao đây?”. Vì thế ông ra lệnh mọi nhạc khí đồng trổi dậy hết sức inh ỏi. Brahmadatta thức dậy, giở tấm khăn ra và thấy đám đông. Rồi che mặt lại, ngài nằm xuống thêm chút nữa, xong trở dậy ngồi xếp bằng trên sàng tọa trong lúc xe vừa dừng lại.

Vị tế sư quỳ xuống, thưa:

– Tâu Chúa thượng, quốc độ được nhường cho Chúa thượng.

– Sao? Vua Ba la nại không có ai kế vị à?

– Tâu Chúa thượng, không.

– Thế thì tốt lắm.

Vậy là ngài nhận lời thỉnh cầu và hội chúng làm lễ quán đảnh rảy nước thánh lên đầu ngài tại ngự viên. Trong giờ phút đại vinh quang ấy, ngài quên bẵng Darìmukha, ngài ngự lên vương xa đi giữa đám quần thần uy nghi diễu vòng quanh kinh thành. Sau đó dừng lại trước cung môn, ngài chỉ định vị trí của các triều thần, xong bước lên lầu thượng.

Cùng lúc ấy, Darìmukha thấy ngự viên đã vắng người liền bước ra ngồi trên bảo tọa trong vườn. Một ngọn lá khô rơi xuống trước mặt ngài. Thấy rõ các quy luật lão tử, ngài bừng ngộ Tam pháp ấn (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và chứng đắc quả vị Ðộc Giác Phật, liền reo mừng hoan hỷ làm vang dậy cả cõi trần. Ngay lập tức các đặc tính của một phàm nhân biến mất khỏi thân Ngài, một bình bát và một tấm y kỳ diệu từ cõi thiên rơi xuống khoác vào người và Ngài có đủ tám món cần thiết cùng tứ oai nghi hoàn thiện của một Sa-môn cả trăm tuổi. Rồi nhờ thần lực, Ngài bay qua không gian đến tận động Nandamùla, nơi an trú của các vị Ðộc Giác Phật tại miền Tuyết Sơn.

Phần Brahmadatta trị nước rất chân chánh. Song cảnh đại vinh quang đã làm ngài say đắm suốt bốn mươi năm ròng. Ngài quên hẳn Darìmukha. Ðến năm thứ bốn mươi ấy ngài nhớ lại bạn và tự bảo: “Trẫm có thân hữu tên là Darìmukha, nay vị ấy ở đâu?”. Ngài mong ước gặp lại bạn. Từ đó về sau, ngay trong hậu cung hay giữa quần thần, ngài thường bảo:

– Thân hữu Darìmukha nay ở đâu? Trẫm sẽ ban vinh hoa phú quý cho ai báo tin với trẫm về nơi bạn hiền cư trú.

Lại mười năm nữa trôi qua từ khi ngài thỉnh thoảng nhớ đến bạn. Còn Tôn giả Darìmukha đã trở thành Ðộc Giác Phật, sau năm mươi năm, suy xét lại và biết bạn cũng đang nhớ đến Ngài, liền nghĩ: “Nay bạn ta đã già và tăng thêm đàn con cháu, ta muốn đi thuyết Pháp và truyền giáo cho bạn”.

Nhờ thần lực, Ngài bay qua không gian và hạ mình xuống vườn ngự uyển, ngồi xuống bảo tọa như một bức tượng vàng ròng. Người giữ vườn thấy Ngài, đi đến hỏi:

– Thưa Ngài, Ngài từ đâu đến?

– Từ động Nandamùlaka.

– Thế Ngài là ai?

– Hiền giả, ta là Phật Ðộc Giác Darìmukha.

– Thưa Ngài, thế Ngài biết đức vua của chúng tôi chăng?

– Ta biết. Ngài là thân hữu từ thời ta còn ở thế tục.

– Thưa Ngài, đức vua ước ao hội kiến Ngài, tôi xin đi trình báo đức vua rằng Ngài đã đến.

Người làm vườn liền đi trình vua rằng Tôn giả Darìmukha đã đến và hiện đang ngồi trên thạch tọa. Vì vậy ngài ngự lên vương xa cùng đám tùy tùng hộ tống đông đảo đến ngự viên, cung kính đảnh lễ vị Ðộc Giác Phật và ngồi xuống một bên. Vị Ðộc Giác Phật bảo:

– Này Brahmadatta, Ðại vương nên trị nước chân chánh, đừng bao giờ theo ác đạo hay đàn áp dân chúng vì tiền bạc. Hãy làm mọi thiện sự với lòng nhân từ.

Và sau đó khi ân cần đáp lễ, Ngài bảo thêm:

– Này Brahmadatta, nay Ðại vương đã già đã đến lúc Ðại vương nên từ giã dục lạc và xuất gia.

Như thế, Ngài thuyết Pháp và ngâm vần kệ đầu:

Dục lạc chỉ là đám bùn dơ bẩn
“Nỗi kinh hoàng ba gốc” được gọi là,
Ta bảo rằng khói bụi với sương sa,
Hãy bỏ chúng, xuất gia lìa thế tục.

Nghe vầy, vua ngâm vần kệ giải thích ngài vẫn đang bị tham dục ràng buộc:

Trẫm say đắm, lún sâu bùn tham dục,
Bà-la-môn, dục lạc đáng kinh thay,
Song yêu đời, trẫm không thể bỏ ngay,
Trẫm xin nguyện suốt đời làm thiện sự.

Sau đó, mặc dù Bồ-tát bảo: “Ta không muốn thọ giới xuất gia”, Tôn giả Darìmukha cũng không bài bác vua và khích lệ lần nữa:

Ai bác bỏ lời bạn hiền khuyên nhủ,
Thương xót và mong bạn tránh đọa đày,
Cứ tưởng rằng: “Cõi thế tốt lành thay”,
Sẽ không dứt tái sinh đầu thai mãi.

Nơi đày đọa đáng kinh: phần kẻ ấy
Ðầy vật dơ, bị người thiện chê bai,
Kẻ tham kia dục vọng chẳng hề rời,
Thân xác chứa ngập đầy mầm nhục dục.

Như vậy, Ðộc Giác Phật Darìmukha nêu rõ sự khổ đau do nhập thai và vội vàng bày tỏ nỗi khổ đau vì sinh sản qua một vần kệ nữa:

Ðầu máu mủ, vật hôi tanh thế tục,
Mọi hữu tình đều phải chịu tái sinh,
Những vật gì xúc chạm suốt đời mình,
Chỉ cốt để đem khổ đau trần giới.
Ta nói lên những điều ta trông thấy,
Chứ không lo người khác nói ta nghe,
Ta nhớ rành các đời kiếp xưa kia.

Vị Ðộc Giác Phật bày tỏ mọi khổ đau của tham dục và làm vua hiểu lời Ngài dạy xong, liền nói:

– Thưa Ðại vương, dù Ðại vương có thọ giới xuất gia hay không, ta cũng đã nói hết nỗi khốn cùng của tham dục và hạnh phúc của đời xuất gia, xin Ðại vương hãy tinh cần.

Rồi giống như một con kim nga vương, Ngài bay bổng lên không, lướt mây về đến động Nandamulaka. Còn bậc Ðại Sĩ đảnh lễ với mười ngón tay chắp vào nhau, và cúi đầu đứng yên cho tới khi Tôn giả Darìmukha khuất bóng. Sau đó vua từ bỏ dục lạc, trong lúc quần chúng đông đảo than khóc kêu gào, ngài đi đến vùng Tuyết Sơn dựng một lều lá và thọ giới làm ẩn sĩ. Chẳng bao lâu ngài thành đạt các Thắng trí và các Thiền chứng, rồi lúc mạng chung, Ngài được sinh lên cõi Phạm thiên.

Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật, sau đó nhiều Tỷ-kheo đắc sơ quả cùng các quả vị kia, và Ngài nhận diện Tiền thân: thời ấy nhà vua chính là ta.

Bài học: Đây là một chuyện tiền thân của đức Phật, thuở ấy ngài vì ham mê vinh hoa của một nhà vua, mà quên mất việc tu tập. Nhờ người bạn là Bà la môn Darimukha, đã tu tập đắc đạo nhắc nhở, mà ngài có nhân duyên để thoát khỏi ham mê vinh hoa, phú quý giả tạm, và trở về con đường tu tập, đạo đức, để đạt đến an lạc, giải thoát. Ở đời, mỗi người cần có duyên để có thể hạ quyết tâm tu tập, giải thoát. Trong chuyện này, bà la môn Darimukha nhờ nhân duyên chiếc lá rơi mà quyết tâm tu tập thành Độc giác Phật. Còn Bồ tát nhờ nhân duyên người bạn cũ nhắc nhở mà biết quay về với chánh pháp.

(Nguồn: Những mẩu chuyện Phật giáo cho thiếu nhi – tập 3 – Đức Kiên)

Thursday, June 25, 2026

Giỗ mẹ



Giỗ mẹ

Năm nay giỗ mẹ xum vầy
Gia đình tụ họp nhớ ngày mẹ đi
Ba năm, thoáng chốc, còn chi
Chỉ còn ký ức, bước đi, dáng ngồi
Còn đây tủ sách một thời
"Vân Hà" ưng trụ, mẹ nơi cõi nào?
Trên trời còn một vì sao
Dõi theo con cháu, biết bao ân tình
Kìa "Trí độ", nọ thơ kinh
Hãy tìm đọc lại, tâm tình mẹ trao
"Pháp hoa", lời Phật khi nao
"Kinh Duy Ma Cật" và bao lời vàng
Diễn ngâm, thơ Bụt âm vang
Cháu con dễ hiểu - mênh mang... đại thừa
Truyện ngắn, và rất nhiều thơ
"Bà chúa ba" đó, ai ngờ Quán Âm
Ngồi đây, nhớ mẹ, khấn thầm
A Di Đà Phật - diệu âm, mẹ về
Học kinh vượt thoát nẻo mê
Gia đình hòa thuận, hướng về chân tâm...
 
Kỷ niệm giỗ mẹ lần 3 - 25/06/2026
PQT

Monday, June 15, 2026

Trăng sáng Phật đản



Trăng sáng Phật đản

Tháng tư trăng sáng Phật tâm
Nhắc người Phật đản - ngày rằm ăn chay
Tu tâm dưỡng tánh mỗi ngày
Vô thường nhớ nghĩ - công dày Phật ân
Giới là thầy gắng chuyên cần
Trăng là nhân chứng bao lần đổi thay
Ngàn năm còn vọng hôm nay
Tham sân si diệt, lớn cây bồ đề
Ánh trăng - tâm Phật hướng về
Thoát ra bể khổ, tìm về chân như
Ngắm nhìn trăng sáng tháng tư
Ngỡ như Đức Phật hiền từ hiện ra
Mỉm cười tỏa sáng chói lòa
Ban niềm vui khắp mọi nhà muôn nơi…
Kỷ niệm Phật đản 2570
Đức Kiên

Thursday, May 14, 2026

Album mừng Phật đản sinh 2026

 Album Mừng Phật đản sinh 2026 (Đức Kiên)

1. Bảy đóa sen thơm 

2. Kính mừng Phật đản 

3. Mừng em bé Bụt

4. Theo bước chân Bụt

5. Vịnh Phật đản 

6. Vui thay Phật ra đời 

7. Ca tụng Như Lai

8. Dưới cội Bồ Đề 

9. Tắm Phật 

10. Trăng tròn tháng tư 

https://youtube.com/playlist?list=PL7ewJDBcXTgQNa2KELbLH6V-G4tFGGDxu&si=M4FNxlkSPbauhWB6



Monday, January 26, 2026

Bụt hiện


 

Bụt hiện 

Trong kho truyện cổ Việt Nam 
Ta thường thấy Bụt siêu phàm hiện thân 
Cứu người thoát khổ khi cần
Đem an bình đến thế nhân mọi đường 

Bụt là ánh sáng tình thương 
Là dòng nước mát, ánh dương giữa đời
Từ ngày Bụt hiện khắp nơi 
Tham, sân, si - bỗng không mời mà đi 

Công trình chứng ngộ diệu kỳ 
Bụt đem ánh sáng xóa đi mê mờ
Bảy tuần thiền định - một giờ 
Sao mai xuất hiện - bất ngờ liễu tri

Tam minh chứng ngộ một khi
Lục thông quét sạch tức thì vô minh
Bấy giờ lúc Bụt hiện hình 
Thần thông hiển lộ tài tình phóng quang 

Chiếu soi cảnh khổ muôn vàn 
Cho trần gian được trăm ngàn phước ân
Nhờ ơn chánh pháp xoay vần 
Ngày nay còn hưởng một phần pháp âm 

Chắp tay kính lễ âm thầm 
Mong sao Bụt hiện trong tâm mỗi người…
Mong từ quang chiếu muôn nơi 
Niệm Bụt, nhớ Bụt - người ơi ghi lòng.

Kính mừng ngày Phật thành đạo-8/12 Ất Tỵ
Đức Kiên 

Wednesday, October 8, 2025

SIÊNG TU HỌC PHẬT

 


SIÊNG TU HỌC PHẬT

Phật pháp thường trụ ở đời
Bởi do còn người tu học
Chánh pháp chính là châu ngọc
Siêng tu, gắng hiểu – ai ơi

Thấy pháp nơi từng trang sách
Thấy trong ánh mắt nụ cười
Pháp thân hiện bày đủ cách
Yêu thương, trí tuệ cho người

Thức dậy mỉm cười hạnh phúc
Cảm ơn ngày mới tinh khôi
Tu học – bây giờ là lúc
Nụ cười an lạc trên môi

Đi đứng không quên niệm Phật
Nói làm suy xét tâm mình
Bình đẳng – đối người tiếp vật
Phật tâm chiếu sáng lung linh

Siêng năng tiến tu từng chút
Mỗi ngày bụi bẩn lau chùi
Tận dụng mọi giây mọi phút
Phật tâm tỏa rạng nguồn vui…

Đức Kiên

(Nguồn: tập thơ Chánh niệm)

Monday, August 11, 2025

Quốc Vương Hữu Ðức

Quốc Vương Hữu Ðức


Trong kinh Ðại-Niết-Bàn, phẩm Kim-Cang-Thân, đức Phật Thích-Ca nói: "Trong thời quá khứ vô lượng kiếp xa xưa, có đức Phật ra đời hiệu là Hoan-Hỷ Tăng-Ích Như-Lai. Lúc bấy giờ đất nước thái bình thạnh trị, dân chúng ấm no hạnh phúc an vui vô cùng, chẳng khác hạnh phúc của chư Bồ-Tát cõi nước Cực-Lạc. Ðức Phật Hoan-Hỷ Tăng-Ích trụ ở đời rất lâu, đến khi cơ duyên độ sanh viên mãn, Ngài nhập Niết-bàn ở thành Câu-Thi-Na, rừng Ta-La Song-Thọ. Sau khi Phật Tăng-Ích nhập Niết-bàn, chánh pháp còn ở đời rất lâu đến vô lượng ức năm. 

Vào lúc chánh pháp chỉ còn 40 năm cuối, bấy giờ có vị tỳ-kheo tên là Giác-Ðức trì giới thanh tịnh, đồ chúng dự nghe đông đảo. Tỳ-kheo Giác-Ðức khuyên cấm các tỳ kheo không được chứa nuôi tôi tớ, trâu bò, heo dê cùng những vật phi pháp. Ðiều nầy khiến cho các tỳ-kheo phá giới oán ghét tìm cách phá phách hãm hại tỳ-kheo Giác-Ðức. Lúc bấy giờ Quốc-vương Hữu-Ðức biết được sự việc như vậy. Vì lòng hộ trì chánh pháp, nên nhà vua đem quân lính đến bảo vệ tỳ-kheo Giác-Ðức an toàn thoát khỏi nạn.

Bọn tỳ-kheo phá giới kia tức giận gây chiến với nhà vua, làm cho nhà vua bị thương nặng. Thấy cảnh đau lòng, tỳ-kheo Giác-Ðức an ủi nhà vua rồi khen: "Lành thay! Lành thay! Vua vì hộ trì chánh pháp mà không tiếc thân mạng. Ðời sau thân vua sẽ là vô lượng pháp khí". Nghe xong lời tán thán ấy, nhà vua hoan hỷ thân tâm nhẹ nhàng, rồi tắt thở, thần thức sanh về cõi Phật A-Súc làm đệ tử thứ nhất của Phật nầy. 

Quân lính theo vua chiến đấu với bọn ác tăng và những người tùy hỷ khen ngợi tinh thần vị pháp vong thân của nhà vua đều được tâm Bồ-đề bất thối chuyển, sau khi chết đều được sanh về cõi Phật A-Súc. Còn tỳ-kheo Giác-Ðức sau khi mạng chung cũng được sanh về cõi Phật A-Súc làm đệ tử thứ hai trong chúng Thanh-văn của đức Phật nầy".

Khi thuật câu chuyện trên đây xong, đức Thích-Ca Như-Lai gọi ngài Ca-Diếp nói: "Nầy Ca-Diếp! Vị Quốc-vương Hữu-Ðức kia chính là tiền thân của ta. Còn tỳ-kheo Giác-Ðức chính là tiền thân của Phật Ca-Diếp đó vậy.

(Nguồn: Những mẩu chuyện PG dành cho thiếu nhi – Đức Kiên – tập 3)

Monday, July 7, 2025

Vườn Lộc Uyển ngày mưa

 


Vườn Lộc Uyển ngày mưa

Về đây thăm lại chốn xưa
Nơi vườn Lộc Uyển ngày mưa bùi ngùi
Còn đây vang vọng những lời
Pháp âm vi diệu - Phật thời chuyển luân
Năm đồng tu giác ngộ dần
Tứ diệu đế-Phật ân cần mở khai
Tăng đoàn thành lập từ đây
Tam bảo đầy đủ-tròn đầy Phước ân
Về đây đảnh lễ một lần
Tri ân Đức Phật-pháp luân mở bày…

18/6/25 - Venarasi, India
Đức Kiên

Thursday, July 3, 2025

Dưới cội Bồ Đề

 


Dưới cội Bồ Đề

Về thăm Lâm Tỳ Ni
Nơi hoàng hậu Maya
Đản sanh bậc kỳ vĩ
Thái tử Tất Đạt Đa

Dưới bóng cây Bồ đề
Chúng con ngồi tĩnh tọa
Gió mát mùi hương lạ
Phật đản sanh hiện về

Bảy búp sen thơm ngát
Nâng đỡ bước chân Người
Bóng Bồ đề tỏa mát
Nhân thế đội ơn Người

Từ bước chân đản sinh
Đức Thế Tôn xuất hiện
Xóa tan hết vô minh
Ngăn ác và khuyến thiện

Ngồi đây cội Bồ đề
Nhớ niềm vui khánh đản
Chánh niệm đừng quên lãng
Lời Phật xưa vọng về…

19/6/25 – Lumbini, Nepal
Đức Kiên

Thursday, June 12, 2025

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

“Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả…”
Hồi hướng phước hôm nay
Đến chúng sanh mọi ngả

Dầu ít oi công đức
Cũng nguyện chia mọi loài
Bởi tâm không vô ngại
Niềm vui bỗng nhân hai

Công đức do tâm hiện
Bởi khai ngộ chuyển mê
Lánh ác, và phục thiện
Đem lợi lạc trăm bề

Bởi công đức vô lượng
Đem cho khắp chúng sanh
Phước đức sinh vô lượng
Phật đạo sẽ chóng thành!

Nam mô Công đức lâm Bồ tát Ma ha tát!

(Nguồn: Tập thơ Chánh niệm – Đức Kiên)

Tuesday, June 3, 2025

BÁT CƠM CÚNG DƯỜNG

 


BÁT CƠM CÚNG DƯỜNG

 

Thuở Đức Phật còn tại thế, hằng ngày Phật và hàng đệ tử đi khất thực để mọi người có duyên gieo hạt giống lành vào thửa ruộng phước của mình. 

Trong mùa an cư, Phật thường thọ trai của thí chủ phần đông là hàng cư sĩ, luân phiên nhau mang thức ăn sẵn vào Tịnh xá cúng dường. 

Trong giới tại gia của Đức Phật, có một người học trò tuy của cải không bằng ai nhưng lại khá giàu lòng tốt. Phiên chàng cúng dường thường vào những ngày cuối tháng. Những bữa cơm giản dị không phải quý giá về phẩm chất,mà quý vì chàng đặt đó tất cả lòng thiết tha thành kính của một đứa con thuần hiếu, mà lòng chân thành lắm khi làm cảm động đến chư Thiên. 

Khi sao mai vừa ló dạng, chàng thức dậy, sửa soạn vớt chất đề hồ cho vào chiếc bình trắng trong, để lên chiếc bàn con bằng gỗ chiên đàn, một gia bảo của mẹ chàng thuộc dòng Bà La Môn để lại cho chàng. Chiếc bàn đã mấy đời dùng làm bàn sắp đồ cúng tế trong các buổi lễ. Kế đó, những món rau đậu chính chàng trồng lấy ở vườn nhà được tự tay chàng nấu nướng. 

Hôm nào cũng như hôm nào, bữa cơm chàng sửa soạn cúng dường Đức Phật cũng mang trọn tất cả lòng thành kính vui mừng. Chàng khẩn nguyện cho cơm chàng cúng dường là bửa cơm đầy Pháp vị, tuy chàng biết vốn liếng tu học của mình không được bao nhiêu và gia thế lại còn tệ hại hơn cả sự hiểu biết của mình nữa. 

Nhưng không biết tại sao tâm chàng thấy hoan hỷ và tin tưởng rằng những bữa cơm đơn giản của mình mang đến cho người thọ dụng tất cả niềm thanh tịnh, hoan hỷ. Và đó cũng là nguồn an ủi lớn nhất trong kiếp hiện tại của chàng.

Mặt trời lên khá cao, chàng vui vẻ mang thức ăn đi cúng dường Đức Phật. Con đường đi vào Tịnh xá Kỳ Hoàn thật êm ả trầm lặng. Chàng không bao giờ ngắm mây bay hoa nở, bước chân chàng nhẹ nhàng thanh thoát lướt qua không kịp nhuốm bụi đường, lòng chỉ lo quá ngọ Đức Phật không kịp thọ dụng.

Nhưng có một hôm, ra khỏi nhà một đỗi,mắt chàng dừng lại, bóng dáng một sinh vật thất thểu dưới nắng hè. Đó là một con chó gầy guộc, lông lá rụng hết, từng mảng lở ghẻ loét hiện rõ dưới ánh mặt trời chói chang. Bốn chân nó khẳng khiu xiêu vẹo không đỡ nổi chiếc thân vốn đã quá gầy còm! 

Hình như nó đánh hơi được thức ăn đang xách trên tay nên lấm la lấm lét tiến lại gần. Nó không biết noí, nhưng đôi mắt van nài, bộ tướng ủ rủ tiều tụy của nó, đủ nóí lên được với chàng rằng: “Tôi không được ăn từ lâu lắm”. 

Chàng đứng khựng lại. Bấy giờ, trước mắt chàng chỉ có hình ảnh của một sinh vật đói lả, mà trong tay chàng lại có sửa, cơm và thức ăn. Thật may phước cho nó quá! Chàng ngồi xuống bên đường, mở bình bát ra, bày các thức ăn trước mặt nó. Con chó ăn không kịp thở, chàng hồi hộp nhìn con vật cùng chia sớt với nó sự bằng lòng, niềm vui hy hữu đang âm thầm tràn ngập tâm hồn. Trong một thoáng chiếc bình đề hồ, cơm, thức ăn hết sạch. Bây giờ con chó no, thong thả ra đi. Chàng trông theo bước chân của nó, giờ đây chắc chắn vững chải trên con đường và nở một nụ cười thoải mái. Nhưng, khi chó vừa khất dạng sau rặng cây trước cửa Tịnh xá, chàng nhìn lại bình đề hồ và liễn cơm với thức ăn sạch nhẵn, lo sợ kinh hoàng! Mặt trời rọi bóng chàng lùn xủn trên mặt đường vậy là vừa đúng ngọ. Tới thì không dám, lùi cũng không đành, sau một giây, thu hết can đảm, chàng hớn hở rảo bước vào Tịnh xá mà nước mắt lăn tròn theo mồ hôi.

Đức thế Tôn dùng huệ nhãn soi rõ sự tình. Ngài ngồi yên, đôi mắt như hai vì sao sáng, nụ cười hoan hỷ từ bi nở tươi làm sáng một vùng trời. 

Chàng nào dám ngó lên, đôi mắt e dè dán chặt xuống đôi bàn chân tê dại. Tuy nhiên, chàng quyết không dối Phật, quyết thú thật hết tội lỗi của mình, mà cũng không dám mong cầu được Phật tha thứ. 

- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con có lỗi nặng vô cùng…và tiếng chàng nhỏ dần như tắc nghẹn.

Đức Phật ôn tồn khuyến khích như thường lệ: Hôm nay phải phiên con đem cơm cúng dường Như Lai đó không? 

- Bạch Thế Tôn…! Tiếng chàng nức nở trong nước mắt. Xin Ngài thứ tội cho con. Vừa rồi trước Tịnh xá, con gặp con chó ghẻ đói lả con lú lẫn quên mất giờ trai của Thế Tôn, con lỡ đem bình bát thức ăn cho con chó ăn hết. Tội con xuẩn ngốc, vô lễ nặng nề không biết ngần nào. 

Nhưng, một vùng hào quang giữa đôi mày Đức Phật phóng ra ánh ngời Tịnh xá như những hôm Phật lên Pháp tòa khởi điểm nói bài kinh trác tuyệt. Tiếng Ngài ngân vang, từ ái tròn đầy: 

- “Mùa hạ này, Như Lai muốn cho các con biết, chỉ có hôm nay Như Lai thọ dụng một bữa cúng dường rất thanh tịnh của một vị đại thí chủ, đầy đủ Pháp vị trong một bữa cúng dường”.


(Nguồn: Những mẩu chuyện PG dành cho thiếu nhi - tập 1 - Đức Kiên)

Monday, April 28, 2025

Bồi hồi miền đất Phật


Bồi hồi miền đất Phật 


Sông Ni-Liên-Thiền trơ đáy
Đâu rồi bóng dáng Thế Tôn
Bên dòng trong xanh ngày ấy 
Tọa thiền chứng ngộ một hôm 

Hai lăm thế kỷ trôi qua 
Đá lỡ cát bồi dâu bể
Nguồn xưa biết tìm không dễ
Phật tâm còn đó hay xa?

Mong cho dòng xưa chảy lại 
Mạch nguồn Phật pháp lan xa
Chúng sanh cúi đầu nhớ mãi 
Ơn ngài- Phật tổ Thích Ca

Về đây dòng sông ngày ấy 
Bồi hồi cảm xúc xót xa 
Nhớ ngài, vâng theo lời dạy 
Bồ đề tâm-sáng trong ta…

Đức Kiên (mùng 1/4 năm Ất Tỵ) 

Monday, April 21, 2025

Lễ Phật

 


LỄ PHẬT

 

Chắp tay kính lễ Phật Đà
Cho con ánh sáng chan hoà từ đây
Trí khai tuệ mở phút giây
Nhân gian vén bỏ áng mây mê mờ

Từ ngài thị hiện đến giờ
Chúng sanh bớt khổ, đến bờ an vui
Sáng lên, bóng tối phải lùi
Hiểu thương xuất hiện, đẩy lui hận thù

Mong cho nhân thế biết tu
Làm lành lánh dữ thiên thu an bình
Tự tu rồi độ chúng sinh
Đó là đền đáp chân tình Phật xưa

Giữ thân miệng ý sớm trưa
Bát chánh đạo đó nẻo đưa tâm về
Tinh cần vượt thoát nẻo mê
Đóa hoa cúng Phật - bồ đề chân tâm.

Đức Kiên (tập thơ Chánh Niệm)

Monday, April 14, 2025

SIÊNG TU HỌC PHẬT

 


SIÊNG TU HỌC PHẬT 

 

Phật pháp thường trụ ở đời 

Bởi do còn người tu học

Chánh pháp chính là châu ngọc 

Siêng tu, gắng hiểu - ai ơi

 

Thấy pháp nơi từng trang sách 

Thấy trong ánh mắt nụ cười 

Pháp thân hiện bày đủ cách 

Yêu thương, trí tuệ cho người 

 

Thức dậy mỉm cười hạnh phúc 

Cảm ơn ngày mới tinh khôi 

Tu học - bây giờ là lúc 

Nụ cười an lạc trên môi

 

Đi đứng không quên niệm Phật 

Nói làm suy xét tâm mình 

Bình đẳng - đối người tiếp vật

Phật tâm chiếu sáng lung linh

 

Siêng năng tiến tu từng chút 

Mỗi ngày bụi bẩn lau chùi 

Tận dụng mọi giây mọi phút

Phật tâm tỏa rạng nguồn vui…


Đức Kiên (tập thơ Chánh Niệm)

Friday, February 21, 2025

Đề Bà Đạt Đa và chiếc bát vàng

Đề Bà Đạt Đa và chiếc bát vàng

Nhiều tiền kiếp Đạt Đa và Phật
Có nhân duyên ẩn mật gặp nhau
Một người tinh tấn tiến mau
Một người nghịch hạnh khổ sầu tai ương
Một tiền kiếp làm nghề buôn bán
Buôn cổ trang bạc vạn gần xa
Có người góa phụ lấy ra
Bán chiếc bát cổ nhưng mà chẳng hay
Tuy đến trước, Đề Bà chẳng lấy
Bảo vật này chẳng mấy xu hào
Ý chờ ép giá về sau
Bỏ đi cơ hội lời cao ngàn vàng
Phật đến sau nhìn ra bát quý
Bảo vật này tiền tỷ sao mua
Chủ nhà nói Phật cứ mua
Tám trăm dốc túi chủ đưa bát vàng
Phật vừa khuất Đề Bà trở lại
Hỏi đâu rồi chiếc bát thải kia
Biết ra Phật đã đem đi
Ổng tức ói máu-sân si mất tiền
Có những kẻ ở gần bát quý
Chẳng nâng niu gìn giữ khác gì
Bỏ đi chẳng được lợi chi
Lại mong quay lại còn gì nữa đâu
Thầy Minh Tuệ dạy cho thầy Báu
Đừng tham lam như gã Đề Bà
Cơ hội quý mất đi mà
Sân si tức tiếc… đã qua duyên rồi
Hãy sám hối đừng như Đề Đạt
Như Phật đà, lợi lạc bát vàng
Chánh mạng tinh tấn vững vàng
Con đường gần Phật - đường vàng chớ quên
Đức Kiên

Sunday, February 9, 2025

Chuyện con báo

 


Chuyện con báo

 

Một thời Trưởng lão Mục Kiền Liên ở trong một am thất có một cửa, trong một vùng đất được rào và núi đồi bao bọc. Lối đi có mái che của nhà ngài ở gần cửa ấy. Một vài mục tử nghĩ rằng hàng rào ấy là chỗ tốt cho đàn dê nên họ lùa dê vào đó. Một hôm họ đến vào buổi chiều đem cả bầy dê đi.

Nhưng có một con dê cái đã lang thang quá xa không thấy bầy dê ra đi, và bị bỏ lại một mình. Sau đó khi nó ra đi, một con báo thấy nó, muốn ăn thịt bèn đứng bên cửa hàng rào. Dê cái nhìn quanh và thấy con báo. Dê suy nghĩ: "Báo đứng đó vì nó muốn giết ta và ăn thịt. Nếu ta quay đầu bỏ chạy, ta sẽ mất mạng. Vậy ta phải can đảm lên".

Rồi dê giương đôi sừng, vùng chạy thẳng trước mặt báo với tất cả dũng lực. Dê thoát được móng vuốt báo trong gang tấc, dù con báo rung mình vì nó tưởng sẽ chụp được dê. Rồi dê chạy hết tốc lực, cuối cùng, nó bắt kịp cả đàn.

Ngài Mục Kiên Liên chứng kiến tận mắt sự can đảm và thành công của con dê, đã đem câu chuyện kể cho đức Phật. Đức Phật nói lời khen ngợi con dê biết nỗ lực tự vệ trước kẻ thù tàn ác. Nhân đó, ngài cũng kể một câu chuyện quá khứ, mà dê đã không dám đương đầu kẻ ác và đã bị ăn thịt.

Bài học: Trong cuộc sống, cần can đảm đương đầu với những khó khăn để vượt qua nó. Trong câu chuyện trên, con dê đã biết rằng "thượng sách là nên xáp lá cà", nhờ đó, nó có cơ may sống còn. Nếu không, kẻ yếu hơn sẽ phải bị tiêu diệt theo quy luật sinh tồn giữa muôn loài.

(Nguồn: Những mẫu chuyện PG dành cho Thiếu nhi - tập 2 - Đức Kiên)

Monday, February 3, 2025

Thắc mắc của vua A Xà Thế

Đầu năm rắn, xin kể một câu chuyện có liên quan đến rắn để mọi người đọc vui xuân. Chúc mọi người, mọi nhà một mùa Xuân an lạc, kiết tường và hạnh phúc!

Thắc mắc của vua A Xà Thế

Vua A Xà Thế sau khi quy y theo Phật đã rất nhiệt tâm trong việc tu học, thường suy tư, tìm hiểu và ứng dụng lời Phật dạy vào việc trị quốc, an dân. Vì vậy, đất nước an bình, thịnh trị. Tuy nhiên, việc vua A Xà Thế theo Phật, thay đổi quan điểm trong việc trị quốc theo hướng nhân từ, không sát hại đã gặp phải sự bài bác, chống đối của các vị Bà La Môn.

Nhân sự việc 2 binh sĩ bỏ nhiệm vụ để trở thành tỳ kheo trong tăng đoàn của Phật, các vị Bà La Môn chất vấn vua A Xà Thế rằng, nếu ai cũng muốn thực hiện theo lời Phật dạy là không sát hại thì lấy ai chiến đấu bảo vệ đất nước và giữ gìn trị an?

Vua A Xà Thế bối rối trước tình huống này, nên đến xin ý kiến Phật để tìm cách hóa giải mâu thuẫn với các vị Bà La Môn, và cũng để giải quyết những khúc mắc trong lòng mình. Sau khi nghe những khúc mắc của vua A Xà Thế về mâu thuẫn giữa nguyên lý bất hại với nhu cầu chiến đấu, trừng phạt để bảo vệ sự an nguy của đất nước, Đức Phật bèn kể một câu chuyện như sau.

Ngày xưa, ở một vương quốc nọ, có một con rắn chúa sinh sống trong ngôi đền cổ. Con rắn này thường bò vào làng và cắn chết nhiều người, nên nó đã trở thành nổi kinh hoàng của mọi người. Không ai dám đến gần ngôi đền và khu vực xung quanh.

Một hôm nọ, có vị đạo sĩ từ phương xa đến và dừng chân trú đêm lại trong ngôi đền đó. Con rắn chúa đã bò đến gần vị đạo sĩ, và định cắn như mọi khi. Tuy nhiên, vị đạo sĩ là người đã có giác ngộ, nên ngài đã dùng tâm từ để cảm hoá con rắn chúa. Ngài đã giảng giải cho nó nghe về nghiệp báo, khiến nó nhận ra lỗi lầm do lòng tham sân si. Nó đã xin quy y với ngài, hứa giữ gìn ngũ giới và nguyện sẽ từ bỏ con đường sát hại.

Từ đó, con rắn trở nên hiền lành, không còn cắn ai nữa. Tuy thế, dần dần mọi người trong làng không còn sợ hãi con rắn, và còn xem thường nó nữa. Chẳng những vậy, nó lại bị lũ trẻ con trong làng chọc phá, dùng gậy gộc đánh một cách rất thảm thương. Con rắn phải trốn vào hang đá vào ban ngày, và ban đêm mới đi ra kiếm ăn. Nó chỉ ăn những thứ cỏ cây, sỏi đá mà không dám giết hại bất kỳ loài vật nào như đã hứa với vị đạo sĩ.

Một ngày kia, vị đạo sĩ trở lại ngôi làng đó, thấy tình cảnh thảm thương của con rắn, ngài nói với nó: "Ta chỉ bảo ngươi không cắn người, chứ đâu bảo ngươi phải từ bỏ bản chất của mình. Ngươi vẫn có thể khò khè làm họ sợ để tự vệ chứ".

Kể đến đây, Đức Phật dạy vua A Xà Thế về trách nhiệm của người cầm quyền, nên dùng tâm nhân từ, công bằng đối xử với mọi người. Khi cần thiết vẫn có thể trừng phạt người phạm lỗi, và vẫn có thể duy trì quân đội để bảo vệ đất nước.

Ngài dạy thêm, điều quan trọng của việc tu tập là đi trên con đường trung đạo, không quá phóng túng, nhưng cũng không quá khắc khổ, cần linh động để ứng xử cho phù hợp với hoàn cảnh, tránh việc cố chấp, quá cứng nhắc trong ứng xử.

Ngoài ra, Đức Phật cũng chỉ cho vua A Xà Thế về bảy nguyên tắc để duy trì hòa bình, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh, đó là:

1/ hai bên cần ngồi đối diện với nhau, cùng nổ lực giải quyết vấn đề.

2/ mỗi bên trình bày vấn đề một cách rõ ràng, bình tĩnh tìm hiểu và ghi nhớ nguyên nhân của vấn đề.

3/ cần dùng trí tuệ khách quan/ công bằng xem xét từng vấn đề, sáng tạo trong việc tìm giải pháp.

4/ nếu nhận thấy điểm sai của mình thì chủ động xin lỗi, không cố chấp cãi bướng. Sẵn lòng tha thứ cho người và cho mình về những khuyết điểm.

5/ mọi quyết sách cần được sự tán đồng của người dân, nếu sau khi đọc lớn 3 lần quyết định trước công chúng mà không ai phản đối, thì mới được ban hành quyết định đó.

6/ trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, các bên cần phải tuân theo quy tắc chung đã đặt ra.

7/ cần mời một người lớn tuổi, có uy tín đứng ra làm trọng tài/ trung gian hoà giải giữa 2 bên.

Phật nói tiếp, nếu đại vương thực hành theo bảy nguyên tắc trên, mọi tranh chấp sẽ có thể được hóa giải, mở ra con đường của hoà bình, an lạc và cùng chung sống giữa mọi người. Nghe xong, vua A Xà Thế vui mừng, tán thán Đức Phật, xin tuân theo lời chỉ dạy và trở về cung.

Bài học: Khi áp dụng lời Phật dạy vào cuộc sống, cần linh động, nên theo tinh thần trung đạo. Nguyên lý bất hại chỉ mang tính tương đối, nên cố gắng tránh sát hại đến mức tối đa. Trong một số tình huống bất khả kháng, việc trừng phạt, hay tiêu diệt kẻ ác để bảo vệ an bình của người thiện một cách công tâm cũng không vi phạm nguyên lý này.

(Nguồn: Những mẩu chuyện Phật giáo dành cho thiếu nhi - tập 3 - Đức Kiên)

Friday, January 24, 2025

Xuân ước vọng



Xuân ước vọng


Ước vọng gì cho xuân mới đây?

Buông bao phiền muộn vẫn đong đầy

Mong cho xuân mới nhiều an lạc

Vững bước an nhiên, mây trắng bay


Cầu cho thế giới hết thiên tai

Chiến tranh, dịch bệnh sớm dừng ngay

Con người giác ngộ - mau buông bỏ

Tham hận, si mê, biết bao ngày


Chắp tay sen trắng, hiện bồ câu

Yêu thương, kham nhẫn... hiện phép màu

Bước đi an lạc trên mặt đất

Nam mô... Tịnh độ - chằng tìm đâu


Xuân về hoa nở khắp nơi nơi

Mong ánh quang minh sáng cõi đời

Mong từ quang xua dần bóng tối

Cho an vui, hạnh phúc... mọi người!


Cảm tác chiều 25 tết Ất Tỵ

Đức Kiên


Friday, December 13, 2024

Tích tiểu thành đại

TÍCH TIỂU THÀNH ĐẠI 

Chớ chê khinh điều ác,
Cho rằng "chưa đến mình",
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi cũng đầy tràn bình.

Cũng vậy tích lũy ác
Việc ác sẽ đầy dần
Người ngu chứa đầy ác
Do chất chứa dần dần.

Chớ chê khinh điều thiện
Cho rằng "chưa đến mình",
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi cũng đầy tràn bình.

Cũng vậy tích lũy thiện
Việc thiện sẽ đầy dần
Người trí chứa đầy thiện,
Do chất chứa dần dần.

(Nguồn: Thơ Phật cho trẻ em - Đức Kiên)