Lời Phật dạy

"Không làm các việc ác, Siêng làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy!" (Kinh Pháp Cú)

Tuesday, September 15, 2009

KHÔNG THỂ THÀNH NGƯỜI

Lang thang trên mạng Internet, tình cờ đọc được câu chuyện có tựa đề "Không thể thành người" trong tuyển tập truyện Những Người Thích Đùa, thấy cũng hay hay nên post lên đây để mọi người cùng đọc và suy ngẫm.

KHÔNG THỂ THÀNH NGƯỜI

Trong bọn tôi chỉ cần có một kẻ nào đó hoài nghi kêu lên: "Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!" là lập tức mọi người gật đầu tán thưởng: "Đúng, chí phải, chí chí phải, không thể thành người!..." Và không bói đâu ra một người phản bác: "Sao lại thế! Phải tự trọng chứ!".

Hồi còn trẻ, có một lần, dạo ấy tôi vào quãng 25 tuổi, bầu nhiệt huyết còn sôi sục, tôi đã cả gan chống lại luận thuyết đó. Lần ấy tôi đi tàu thuỷ ra đảo Hoàng Nam. Trên tàu bỗng có một người đàn ông đứng tuổi càu nhàu một mình, đến hung thần cũng không hiểu vì sao tự nhiên lại thế.
- Xin lỗi các người, làm sao chúng ta có thể thành người được!
Mọi người có mặt trong phòng khách lúc ấy đều gật đầu đồng ý. Riêng tôi thì nóng mắt cự lại:
- Sao lại không thành?! Còn thành thế nào nữa!... Dứt khoát là thành!... Mà còn thành những người làm chấn động địa cầu là khác!
Mọi người trong phòng khách tưởng như ăn ý với nhau từ trước, đồng thanh kêu ầm lên:
- Bậy nào, bậy nào, không thể thành người được!...
- Chúng ta còn lâu mới đuổi kịp thiên hạ!
- Chúng ta không thể thành người được!
Được mọi người hỗ trợ, ông già kia bớt nóng:
- Nghe thấy chưa, con?... Các vị đây đều nhất trí ủng hộ tôi đấy. Như thế nghĩa là quả thật chúng ta không thành người được. Con xem, có ai buộc các vị kêu lên thế đâu.
- Thành người!... Nhất định sẽ thành người! - tôi lặp lại.
Ông già cười nhạt:
- Đó, con vừa nói : "Nhất định sẽ thành người". Chữ sẽ như thế nghĩa là trước đây và bây giờ chưa thành người chứ sao.
Từ bấy đến nay bao nhiêu năm trôi qua mà lúc nào tôi cũng băn khoăn "Vì sao chúng ta không thành người được?".

Lần đi tù mới đây đã mở cho tôi đôi mắt : cuối cùng tôi đã tìm ra câu đáp. Trong tù tôi bị nhốt vào một khám lớn của tù chính trị. Quanh tôi la cả một xã hội trí tuệ: các nhà doanh nghiệp nổi tiếng, các nhân sĩ lỗi lạc, các ngài tỉnh trưởng, các quan đốc học, các cựu nghị sĩ, các chính khách xuất chúng, các vị đại thần, các bậc kỹ sư, các bác sĩ danh vang toàn cõi. Hầu hết những người này đều đỗ đạt tận Châu Âu, Châu Mỹ, đã từng xuất dương và biết đến vài ba thứ tiếng. Mặc dù cách nhìn đời của tôi và họ còn khác xa nhau, nhưng trước hết là nhờ có họ mà tôi hiểu ra được rất nhiều điều về cái sự tại sao chúng ta không thành người được.
Những ngày tiếp người nhà, tôi được nghe toàn những tin xấu: lúc thì gia đình tôi không trả được tiền nhà, lúc thì chịu tiền ông chủ quán nước, và biết bao nhiêu chuyện dằn vặt khác nữa. Tôi thấy nặng nề, ủ dột. Tệ hơn nữa là tôi có mặc cảm tuyệt vọng. Bấy giờ chỉ còn một lối thoát: phải lập tức ngồi viết tiểu thuyết. May ra có một tờ báo nào chịu đăng tải thì tôi kiếm được ít tiền. Nội dung cuốn sách đó tôi cũng đã thai nghén từ lâu.
Đã quyết là làm, tôi bèn đi kiếm một cây bút máy, một xấp giấy rồi ngồi chéo khoeo trên giường mà viết. Không được lãng phí thời giờ! Phải chấm dứt chuyện trò ba láp hoặc ngồi không nghĩ vơ nghĩ vẩn!
Chưa viết được 10 dòng thì một vị phạm nhân, đầu óc sáng láng đến gần tôi:
- Chúng ta không thể thành người được! - vị ấy tuyên bố ngay - Quyết không, quyết không!
Tôi nín im.
- Anh nói sao tôi nghe nào? - vị ấy gặng - Tôi đã ăn học ở Thuỵ Sĩ, 6 năm làm việc ở Bỉ. Rồi ông ta kể lể dài dòng và cặn kẽ về cuộc sống ở 2 nước đó.
Tôi phát rầu rĩ vì bị quấy quả đột nhiên, nhưng biết làm sao được. Thỉnh thoảng tôi đưa mắt nhìn xuống, cố ý cho ông ta hiểu rằng tôi rất bận và mong ông ta đứng dậy. Than ôi! bạn tôi nào có biết phán đoán. Ông ta cứ thế mà nhớ đâu rồi đấy:
- Bên ấy anh sẽ thấy không ai không cầm sách vở. Một người Thuỵ Sĩ hoặc một người Bỉ có được vài phút rỗi rãi là họ mở sách ra ngay. Đi ô tô, đi tàu hoả, chỗ nào cũng đọc. Mà giá anh thấy họ trong nhà cũng thế! Lúc nào cũng đọc, đọc và đọc...
- Chà, ghê thật, ghê thật! - Tôi ngắt lời ông ta với hy vọng ông ấy tha cho tôi nhờ.
- Ghê hẳn đi chứ lỵ! - ông ta nói tiếp - Còn bây giờ anh cứ thử nhìn những người quanh đây xem. Ai cũng nhận mình là trí thức mà không có ai cầm sách cả. Không, bạn thân mến của tôi ơi, chúng ta không thành người được.
- Ông nói quả đúng - tôi đồng ý.
Tôi vừa nói thế, ông ta liền hăng tiết lên gấp 2 lần và lại tiếp tục câu chuyện người Bỉ người Thuỵ Sĩ đọc sách mọi nơi mọi lúc. Đến giờ ăn trưa. Chúng tôi cùng đứng lên.
- Chúng ta không thành người được. Bây giờ anh đã rõ vì sao như thế chưa? - Ông ta hỏi.
- Rõ - tôi đáp.
Thế là tôi mất đứt nửa ngày để nghe một bài giảng về lòng hiếu sách của người Thuỵ Sĩ và của người Bỉ. Nuốt vội vàng mấy hạt cơm trưa tôi lại leo lên giường viết sách. Tờ giấy trên đầu gối, cây bút trong tay, tôi vừa ngồi vừa nghĩ. Chưa viết được một chữ lại một người quen bước đến:
- Anh làm gì vậy?
- Tôi viết tiểu thuyết.
- Ở đây viết không ra cái gì đâu. Anh này ngộ thật!... Anh đã ở Châu Âu lần nào chưa!
- Không, tôi chưa bao giờ ra khỏi đất Thổ.
- Tiếc quá! Thế thì anh phải đi Châu Âu mới được. Sống bên đó, được tận mắt nhìn thấy mọi vẻ sinh hoạt là điều rất thú vị. Những chuyến đi ấy làm con người mở rộng được tầm mắt. Tôi đã đi hầu khắp Châu Âu, có lẽ không nước nào không đặt chân tới. Lâu nhất là thời kỳ tôi ở Đan Mạch, Hà Lan và Thuỵ Điển. Ở các nước đó mọi người tôn trọng nhau hết sức. Thậm chí người ta không nói to để khỏi phiền người bên cạnh. Còn ở nước ta, anh xem! Muốn thủng hai màng nhĩ! Có lúc tôi muốn chợp mắt một tý, muốn đọc hoặc viết một tý, tôi thiếu gì việc phải làm hả anh, thế mà cũng không được. Ồn như chợ vỡ thế này anh không viết tiểu thuyết được đâu. Không thể viết được.
- Ồn như chợ vỡ tôi cũng viết được. Tôi chỉ không viết được khi bị người khác lải nhải bên tai mà thôi.
- Bạn thân mến ơi, nhưng được yên tĩnh thì thích hơn biết mấy. Có phải thế không? Mà họ có quyền gì quấy rầy anh kia chứ? Họ có thể nói nhỏ được quá chứ lỵ. Ở Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hà Lan không có ai bất lịch sự như thế bao giờ. Dân chúng người ta tân tiến vì biết tôn trọng lẫn nhau.
Ông ta cứ nói lảm nhảm hết chuyện này chuyện khác, lôi ra trăm thứ dẫn dụ để minh hoạc cho trình độ lịch thiệp và giáo dục của người Châu Âu. Tôi cúi xuống mặt giấy và bắt đầu viết. Nói đúng hơn là tôi làm ra bộ viết. Hẳn như thế là bất nhã nhưng tôi còn biết làm sao khác được?
- Đừng hoài công vô ích - ông bạn lại nói - không viết được gì đâu. Viết thế anh chỉ làm hỏng đầu óc. Nước Thổ chứ có phải là Châu Âu đâu. Anh có biết một người dân Châu Âu thì phải thế nào không? Trước hết là phải có lòng tôn trọng người bên cạnh
mình. Còn ta thì sao? Bạn thân mến của tôi ơi, chính là vì lẽ đó mà chúng ta không nên người được đâu. Không, chẳng thể nào được!
Chắc ông ta chưa chịu kết thúc ngay, nhưng may quá, luật sư của ông ta đến cứu nguy cho tôi. Sợ rằng lại có người khác đến ám, tôi cùi gằm hẳn mặt xuống. Vừa viết được hai dòng, lại một ông bạn cùng xà lim bước đến.
- Chúc anh thành công ! - ông ta nói.
- Cám ơn bác - tôi đáp.
Ông ta ngồi xuống giường tôi nói:
- Còn xa chúng ta mới thành những người chân chính!...
Tôi không hé răng nửa lời hòng chặn đứng câu chuyện ngay từ khởi thuỷ.
- Anh đã sang Mỹ bao giờ chưa? - ông ta hỏi.
- Chưa.
- Tiếc thật! Anh được ở đó vài tháng anh sẽ hiểu ngay vì sao chúng ta lạc hậu thế này. Người Mỹ đâu có như ta, họ không thích tán gẫu. Bên họ có câu : "Time is money." "Thời gian là tiền bạc". Người Mỹ chỉ đến với anh khi có việc. Họ nói vài câu cần thiết rồi đi làm việc khác. Còn nước Thổ ta thì sao? Cứ lấy chúng ta mà xem. Chúng ta đang làm gì? Tán dóc chứ sao. Tán hết ngày này qua tháng khác! ở Mỹ như thế thì đừng có hòng. Chính vậy mà họ tân tiến.
Tôi thở dài liên tiếp, lòng thầm mong ông ta hiểu cho là tôi rất bận và ông ta đi đi cho rồi. Nhưng ông ta cứ tiếp tục khoa đại ngôn như chẳng hề hám chuyện gì cả. Đến giờ ăn tối. Trước khi cáo lui ông ta bảo:
- Chúng ta không thành người được. Đúng thế. Cứ cái lối sa đà trò chuyện thế này thì chẳng có bao giờ nên người.
- Bác nói thật chí lý - tôi đáp.
Khoắng vội cho xong bát cơm, tôi quay về làm việc. Tiểu thuyết! Phải viết tiểu thuyết!
- Cái chính là phải lao động. Những việc khác là phụ - tôi bỗng nghe có tiếng người nói. Ngẩng đầu lên tôi thấy một bạn cùng khám đứng cạnh.
- Theo anh thì sao? - anh ta hỏi và ngồi xuống giường bên.
- Ai dám tranh luận chuyện đó? Lao động cần quá đi chứ - tôi đáp.
- Bố mẹ tôi giáo dục tôi theo tinh thần nước Đức...
Tôi giận đến tím ruột. Còn anh bạn thì sôi nổi tiếp tục:
- Tôi tốt nghiệp trường li-xê Đức ở Xtămbun rồi sang Đức học đại học, sau đó tôi ở lại làm việc bên ấy nhiều năm. Người Đức chả có ai ăn không ngồi rồi cả. Còn bên ta thì thế nào? Cứ lấy tất cả những người trong khám này ra làm bằng mà xem. Không. Không, chúng ta không thể thành người được. Còn lâu chúng ta mới là những người chân chính!
Tôi hiểu ra: ban ngày người ta không cho tôi viết tiểu thuyết. Cố viết, tôi chỉ giết chết thần kinh của mình mà thôi. Bây giờ chỉ còn nước đợi đến đêm cho mọi người đi ngủ cái đã. Anh bạn không mời mà đến của tôi lại thao thao về đất nước Đức.
- Ở Đức mà ngồi không ăn bám là điều sỉ nhục. Người Đức dù bị số phận xua đuổi đến đâu đi nữa cũng không bao giờ chịu ngồi bó gối, thế nào họ cũng phải tìm được một việc gì đó mà làm. Một lẽ đương nhiên là không thể không lao động được. Còn đây là một dẫn chứng phản diện: chúng ta đã nằm đây mấy tháng rồi, thử hỏi có ai làm gì hay không? Đụng đến chuyện ấy là người ta lấy làm lạ: trong tù thì làm gì được! Một người trí thức nước Đức sẽ không nói vậy. Ông ta sẽ ngồi viết hồi ký, viết báo, lo nghĩ công việc của mình hoặc đọc sách báo, tóm lại, ông ta không có chơi bời phí phạm. Còn chúng ta thì sao? Anh muốn nói gì thì nói, chúng ta không thể thành người được.
Đến tận nửa đêm anh ta mới về. Bây giờ có thể làm việc được rồi. Không còn ai đến ngồi quấy phá và lên lớp cho tôi về chuyện để lý do khiến chúng ta không nên người được. Chao ôi, tôi đã lầm to: lại có người đến. Người này dã lăn lộn nhiều năm bên Pháp. Ông ta khe khẽ thì thầm sợ phiền đến giấc ngủ mọi người. Theo lời ông, người Pháp là người biết làm việc ra trò, nghỉ ngơi và vui chơi ra trò, dân tộc đó không bao giờ lẫn lộn thời gian làm việc với thời gian nghỉ ngơi. Rồi ông ta khuyên tôi không nên làm việc quá nửa đêm như thế.
- Bây giờ anh đi ngủ ngay đi, sáng mai đầu óc tỉnh táo anh lại tiếp tục viết. Bên nước ta mọi tưứ cứ lùng chùng với nhau: lao động, nghỉ ngơi, giải trí, không cái gì ra cái gì cả. Lúc nghỉ thì mình làm việc, giờ làm việc mình lại muốn nghỉ. Đấy cứ bảo tại sao chúng ta không biết làm việc cho có năng suất. Không bao giờ chúng ta thành người được đâu. Không bao giờ!
Lúc ông ta đi thì tôi cũng không còn sức để viết được nữa. 2 mí mắt tôi cứng lại. Tôi lăn ra ngủ vùi. Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm, lúc chưa ai dậy, và lại bắt tay vào việc. Có một người cùng khám mà tôi rất kính nể vừa đi ngoài về. Thấy tôi ông ta bước lại.
- Mọi thứ ở bên Anh không có như bên ta - ông nhận xét - Anh đã ở bên Anh bao giờ chưa?
- Chưa ạ.
- Anh cứ hình dung như anh đang ở bên ấy và đang đi tàu. Người cùng phòng với anh suốt nửa ngày không thèm nói câu nào. Bên ta mà thế thì lại bảo: "Cái thằng kênh kiệu! Mặt lạnh như tiền!" Nhưng đó có phải tại người ta lạnh lùng và kênh kiệu đâu, đó là người rất có ý thức và rất tế nhị. Biết đâu anh không thích nói chuyện với người ta thì sao. Cơn cớ gì mà người ta làm phiền đến anh! Còn bên ta thì sao?... Anh ta có quen anh hay không, anh đang bận hay đang rỗi, mặc! Anh ta cứ mở miệng tán phét. Chính vì thế mà chúng ta chẳng bao giờ thành người được cả.
Tôi vò nát tờ giấy trên đầu gối, quẳng xuống gậm giường và nhét bút vào túi. Thế là hết!... Thế là tiêu tan cái mộng tiểu thuyết của tôi. Phải, trong tù tôi không viết được gì cả. Nhưng mà tù đã mở ra cho tôi một chân lý trăm ngàn lần quý hơn cuốn sách thai nghén kia. Tôi đã hiểu ra vì sao chúng ta không thể thành người được.
Bây giờ chỉ cần một người nào đó đứng bên tôi bảo rằng: "Không chúng ta không thể thành người được!..." thi lập tức tôi giơ tay hô lớn: - Tôi biết lý do rồi!

Tôi trưởng thành hẳn lên.

Saturday, September 5, 2009

ĐỔI MỚI – NHU CẦU CẤP THIẾT ĐỂ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN

ĐỔI MỚI – NHU CẦU CẤP THIẾT ĐỂ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN

Ngày nay, thế giới ngày càng nhận thấy vai trò quan trọng của việc đổi mới để tồn tại và phát triển. Toàn cầu hóa và sự thay đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã khiến mọi thứ nhanh chóng trở nên lạc hậu, và không còn phù hợp nữa, nếu không đổi mới, thay thế thì chúng có thể trở thành những rào cản cho sự phát triển và tiến bộ của tổ chức và xã hội. Nhu cầu đổi mới này không chỉ giới hạn ở các tổ chức kinh doanh, mà nó đã nhanh chóng mở rộng cả về phạm vi (quốc gia, khu vực, quốc tế), và cả về lĩnh vực (chính trị, văn hóa, xã hội…).

Cuối năm 2008, chúng ta vừa chứng kiến nhân dân Mỹ đã quyết định chọn tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, vì họ nhìn thấy ở ông những tư duy mới mẻ và khả năng đổi mới cần thiết cho nước Mỹ. Gần đây nhất, chúng ta cũng chứng kiến người dân Nhật đã bỏ phiếu để bầu chọn thủ tướng mới thuộc về một đảng phái khác với đảng đã và đang cầm quyền nước Nhật trong suốt 50 năm qua, cũng chỉ vì khát vọng phải đổi mới đất nước để phát triển hơn nữa.

Đối với dân tộc Việt Nam, khát vọng đổi mới này đã có từ rất lâu, khát vọng đó đã được thể hiện qua những dòng thơ của cụ Phan Bội Châu gửi thanh niên:
“Thưa các cô, các chị, các anh
Ngày đổi mới, người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Ghé vai vào gánh vác việc giang san
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan
Dây đoàn thể quyết ghe phen thành hiệp lại
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
Chẳng thèm ăn, chẳng thèm mặc, chẳng thèm chơi
Lấy gan sắt để dời non lấp bể
Lấy máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
Mới thế này là mới hỡi chư quân
Chữ rằng – Nhật nhật tân, hựu nhật tân”

Nhớ đến phong trào Duy Tân do cụ Phan phát động cách đây cả thế kỷ khiến chúng ta không khỏi nghĩ đến nhu cầu đổi mới đất nước ngày nay, bởi ý nghĩa của 2 chữ Duy Tân đã không hề lỗi thời mà lại càng rất phù hợp cho thời điểm hiện nay.

Việc đổi mới ở nước ta lúc này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, không chỉ bởi tác động của toàn cầu hóa và sự thay đổi về công nghệ trên thế giới, mà còn bởi khao khát vươn lên “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” đã từ lâu vẫn chưa thực hiện được kể từ khi đất nước được hoà bình, thống nhất. Nếu so sánh với các nước xung quanh, ta sẽ thấy khát vọng đó là có thể thực hiện được, nhưng để biến khát vọng đó thành hiện thực một cách nhanh chóng đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách nghĩ và cách làm như bấy lâu nay. Hãy nhìn ra thế giới, nước Nhật chỉ cần 20 năm sau chiến tranh thế giới thứ 2, họ đã vươn lên từ đống đổ nát để đạt đến địa vị cường quốc kinh tế đứng hàng thứ 2 thế giới. Hàn Quốc từ sau hiệp định chấm dứt chiến tranh, họ đã trở thành cường quốc công nghiệp về lĩnh vực điện tử, máy tính và các sản phẩm công nghệ cao chỉ sau 25 năm. Sở dĩ, Nhật Bản và Hàn Quốc đạt được những thành tựu như vậy là nhờ họ biết tầm quan trọng của đổi mới và họ biết cách đổi mới một cách toàn diện dựa trên sức mạnh của cả dân tộc.

Ở nước ta, cũng chính nhờ chính sách “Đổi mới” nhằm thay đổi tư duy về quản lý kinh tế mà kinh tế đất nước mới có được sự khởi sắc như ngày nay. Tuy nhiên, vì chính sách đổi mới của chúng ta chỉ mang tính chất sửa sai và thay đổi từng phần, nên hiệu quả đạt được không cao, vẫn chưa thể làm cơ sở cho một sự thay đổi sâu rộng đất nước nhằm hướng tới mục tiêu lâu dài như mong mỏi của toàn dân.

Một khi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới, vấn đề đặt ra bây giờ là chúng ta cần phải làm gì để rút ngắn thời gian để đất nước có thể “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”? Câu trả lời chính là ở sự đổi mới toàn diện và triệt để. Chúng ta phải dứt khoát từ bỏ những cái cũ, lạc hậu, để những cái mới, cái tốt đẹp có cơ hội được hình thành và phát triển. Sự đổi mới phải bắt đầu từ mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức và lan rộng ra phạm vi toàn xã hội. Ở cấp quốc gia, những giải pháp đổi mới cụ thể có thể là: đổi mới tư duy sao cho phát huy được sự đoàn kết và sức mạnh tổng hợp của toàn dân; đổi mới cách quản lý lạc hậu để sao cho cơ chế trở nên gọn nhẹ hiệu quả, người thực tài sẽ đóng vai trò quản lý và đưa ra các đường hướng phát triển đối với lĩnh vực hay bộ phận mà mình phụ trách; đổi mới giáo dục để đào tạo ra những con người có đủ năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức cần thiết cho đất nước; đổi mới truyền thông sao cho người dân được tiếp cận các thông tin có giá trị, các tin tức, bình luận, tiếng nói phản biện của người dân được truyền thông rộng rãi, góp phần điều chỉnh các hiện tượng tiêu cực, và đấu tranh với những sai trái; đổi mới luật pháp sao cho kỷ cương phép nước được tôn trọng, thể hiện sự nghiêm minh, công bằng đối với mọi đối tượng trong xã hội; đổi mới quân đội sao cho đủ hùng mạnh để đảm bảo được toàn vẹn chủ quyền của đất nước, an ninh của nhân dân, đóng góp vào trách nhiệm chung của quốc tế và nêu cao danh dự của tổ quốc…

Lúc này, nhu cầu đổi mới để tồn tại và phát triển đã trở thành cấp bách hơn bao giờ hết, không chỉ đối với nhân dân thế giới mà còn đối với cả dân tộc Việt Nam. Vì nếu không đổi mới, cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận nhìn thấy đất nước mình sẽ tụt hậu ngày càng xa trong cuộc tranh đua quốc tế, mà tốc độ và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Thời đại ngày nay đòi hỏi chúng ta phải hành động một cách nhanh chóng, dứt khoát và không thể chần chừ hơn nữa, bởi nếu chần chừ trong việc đổi mới nghĩa là chúng ta đã có tội với các thế hệ cha ông vì đã không thực hiện được mong mỏi của các vị, và cũng có tội cả với các thế hệ con cháu sau này khi để đất nước ngày càng tụt hậu so với các nước khác trên thế giới.

Trên đây chỉ là một vài suy nghĩ về nhu cầu phải đổi mới toàn diện và triệt để về mọi khía cạnh để đưa đất nước nhanh chóng phát triển đi lên trong bối cảnh hội nhập với quốc tế như hiện nay. Dân tộc Việt Nam có một lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm dũng cảm và oai hùng, bao thế hệ cha ông đã ngã xuống để bảo vệ cho chúng ta có một đất nước tươi đẹp, nhiều tài nguyên thiên nhiên. Con người Việt Nam nổi tiếng với nụ cười hiền hòa, đôi tay khéo léo và tinh thần ham học hỏi. Đất nước ấy, dân tộc ấy rất xứng đáng để có một vị trí cao trong cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Trách nhiệm to lớn này đặt lên vai tất cả mọi người Việt Nam, đặc biệt là trông chờ ở thế hệ trẻ, những người có đầu óc dám đổi mới, biết học hỏi, tiếp thu tri thức khoa học và công nghệ, tạo ra những giá trị độc sáng dựa trên tri thức và óc sáng tạo, đưa đất nước vững bước phát triển đi lên theo kịp với các nước tiên tiến trên thế giới. Chỉ có con đường đổi mới và sáng tạo không ngừng mới có thể đưa đất nước cất cánh đi lên, mang lại sự thịnh vượng, ấm no cho cả dân tộc, và giúp người Việt Nam có thể hãnh diện “sánh vai” cùng bạn bè năm châu, bốn biển, như ước vọng muôn thuở của cha ông ta. Mong rằng tương lai ấy sẽ không xa!

Saturday, August 29, 2009

Ơn Nghĩa Sinh Thành

Ơn Nghĩa Sinh Thành
Sáng tác: Dương Thiệu Tước

Uống nước nhớ nguồn
Làm con phải hiếu
Em ơi hãy nhớ năm xưa
Những ngày còn thơ
Công ai nuôi dưỡng.

Công đức sinh thành
Người hỡi đừng quên
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước
Trong nguồn chảy ra.

Người ơi, làm người ở trên đời
Nhớ công người sinh dưỡng
Đó mới là hiền nhân.
Vì đâu, anh nên người tài ba
Hãy nhớ công sinh thành
Vì ai, mà có ta?

Uống nước nhớ nguồn
Làm con phải hiếu
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước
Trong nguồn chảy ra




Friday, August 21, 2009

Vài suy nghĩ nhân mùa Vu Lan báo hiếu

Vài suy nghĩ nhân mùa Vu Lan báo hiếu

Hằng năm, cứ vào dịp rằm tháng 7 (15/7 âm lịch), là mùa lễ hội Vu Lan, là dịp để những người con hiếu thảo tưởng nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lòng hiếu thảo có thể được thể hiện bằng nhiều cách, nhưng phổ biến nhất vẫn là đến chùa thắp hương, lễ Phật và cầu mong mọi điều an lành đến cho cha mẹ hiện tiền cũng như đã quá vãng. Đây là 1 phong tục rất hay của người Phật tử ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước châu Á khác.

Ở nhiều nước, họ có những ngày riêng để tưởng nhớ về công ơn cha mẹ, như là ngày Mother’s Day hoặc ngày Father’s Day. Ở nước ta, hình như chưa có một ngày lễ chính thức để thể hiện lòng biết ơn với cha mẹ, vì vậy nên chăng, chúng ta hãy dựa vào ngày Vu Lan báo hiếu của đạo Phật để phát triển thành ngày tưởng nhớ công đức cha mẹ cho tất cả mọi người Việt Nam. Thiết nghĩ, điều này cũng phù hợp với truyền thống của dân tộc ta từ xưa đến nay, vì việc nhớ ơn, báo hiếu là một truyền thống tốt đẹp không chỉ của những người con Phật mà còn là của chung toàn thể dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam, dù thuộc truyền thống tôn giáo nào hoặc không có tôn giáo, thì đều xem việc thờ cúng ông bà tổ tiên là một nghĩa cử cần thiết để thể hiện lòng hiếu thảo. Chính vì thế, một số người còn gọi đó là Đạo Ông Bà, hay là một truyền thống tâm linh gốc của dân tộc Việt Nam gắn liền với chữ Hiếu.

Để ngày Vu Lan có thể trở thành ngày Hiếu thảo của dân tộc, ngày nhớ ơn công đức sinh thành dưỡng dục cho đúng nghĩa, chúng ta cần một cái nhìn rộng hơn và một ít điều chỉnh về những thói quen và suy nghĩ của mọi người về ngày lễ này:

1/ Tục lệ bông hồng cài áo: đây là 1 tục lệ rất đẹp được du nhập từ truyền thống của người Nhật Bản, vào ngày Mother’s Day, những người còn mẹ thường được cài lên áo một bông hoa đỏ, những người mất mẹ thì cài lên áo bông hoa trắng để mỗi người nhận thấy được sự có mặt của mẹ trên đời là rất thiêng liêng. Thế nhưng, nếu áp dụng rập khuôn như thế, chúng ta vô tình quên mất rằng, để có mặt trên đời này thì không chỉ có mẹ mà còn cần phải có người cha nữa, vì vậy nên chăng, tục lệ này nên điều chỉnh một chút để thể hiện được sự cân bằng này. Chẳng hạn, hoa hồng đỏ chỉ cài lên ngực áo những người con mà cha mẹ vẫn còn sống, và hoa hồng trắng dành cho những người con mà cha hoặc mẹ đã qua đời. Làm như vậy để lòng hiếu được thể hiện trọn vẹn y‎ nghĩa của nó, bởi vì công cha hay nghĩa mẹ đều to lớn và cao cả như nhau, nếu chẳng may mất cha hay mẹ thì đều là mất mát to lớn cả.
“Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

2/ Nên hướng tới người sống nhiều hơn người chết: có lẽ vì ngày lễ Vu Lan bắt nguồn từ truyền thuyết ngài Mục Kiền Liên muốn cứu mẹ chịu tội khổ trong địa ngục, nên ngày lễ này thường gắn liền với việc cầu siêu, cúng cô hồn, và chăm lo cho người thân đã mất nhiều hơn. Tuy nhiên, ta biết rằng, sự hiếu thảo của người con đối với cha mẹ cần phải được thể hiện qua những lời nói, hành động cụ thể, đặc biệt là khi cha mẹ còn sống, để người vui lòng và cảm nhận được lòng biết ơn của con cái đối với mình. Những việc làm hiếu thảo cụ thể như: thường xuyên quan tâm thăm hỏi, giúp đỡ cha mẹ về vật chất và tinh thần, chăm sóc những lúc đau ốm bệnh tật… Tôi còn nhớ một bài thơ dịch từ tiếng Anh nói lên mong muốn của người mẹ được đón nhận tình cảm yêu thương từ người con, như sau:
“Nếu có bao giờ con yêu mẹ
Thì hãy yêu khi mẹ còn đây
Còn biết được những lời tình cảm
Ngọt ngào êm dịu đến cuồng say
*
Hãy yêu đi khi mẹ còn biết
Đừng để đến lúc mẹ ra đi
Ghi lời yêu dấu lên bia đá
Mỹ từ lên phiến đá vô tri
*
Hãy nói lên lời con muốn nói
Đừng để đến lúc mẹ ngủ say
Một giấc ngủ chẳng bao giờ dậy
Ngàn năm ngăn cách chẳng ngày mai…”

Đó là vài suy nghĩ về ‎y nghĩa cao đẹp của ngày Vu Lan báo hiếu trong đạo Phật, và mong rằng ngày này sẽ trở thành một ngày lễ chung để tưởng nhớ công ơn cha mẹ cho mọi người Việt Nam. Sao cho, cứ đến ngày này, mỗi người Việt Nam đều lắng lòng để tưởng nhớ đến cha mẹ mình, những gian lao vất vả của hai đấng sinh thành, đã cho ta có mặt trên cuộc đời này, nuôi ta lớn khôn, dạy ta nên người và sẳn sàng hy sinh cả cuộc đời vì tương lai và sự nghiệp của chúng ta. Ơn đức ấy, công lao ấy rất to lớn, rất cần được trân trọng và tưởng nhớ, dù chỉ một ngày trong năm. Để mỗi người con có dịp biểu hiện lòng hiếu kính của mình đối với cha mẹ, nếu cha mẹ còn sống thì chăm lo thăm hỏi, hoặc nếu chẳng may cha mẹ đã qua đời, thì hãy làm những việc công đức để hồi hướng và cầu mong cha mẹ siêu sanh vào những cảnh giới an lạc. Mỗi chúng ta hãy cùng thắp nén tâm hương trong mùa vu lan cho hoa hiếu thảo được ngát hương và truyền thống Hiếu đạo của dân tộc được bảo tồn và phát triển.

Friday, August 14, 2009

Vài nét về lễ hội Obon của Nhật Bản

Gozan Okuribi (五山送り火)Image via Wikipedia

Obon (お盆) hay Bon (), còn được biết đến như là "Ngày của người chết", là một phong tục của người Nhật theo Phật giáo để tưởng niệm những người thân đã qua đời. Phong tục Phật giáo này đã phát triển thành ngày lễ đoàn tụ gia đình, là thời điểm mọi người trở về quê cha đất tổ để thăm viếng và chăm sóc, dọn dẹp phần mộ của tổ tiên. Đây cũng là thời điểm mà linh hồn của các người đã mất được phép trở về thăm con cháu. Lễ hội này, còn được gọi là Lễ hội của những con thuyền, đã được tổ chức ở Nhật hơn 500 năm và thường gắn liền với 1 điệu múa dân gian, có tên là Bon-Odori.

Lễ hội Obon kéo dài trong 3 ngày, tuy nhiên ngày bắt đầu có khác biệt đôi chút ở những vùng khác nhau của Nhật Bản. Khi người Nhật bỏ âm lịch để chuyển sang sử dụng dương lịch vào đầu thời kỳ Minh Trị, việc điều chỉnh tương ứng ở các địa phương có sự khác biệt, dẫn đến 3 thời điểm khác nhau cho ngày Obon. "Shichigatsu Bon" (Bon tháng bảy) thì tổ chức vào ngày 15 tháng 7 dương lịch ở các vùng như Tokyo, Yokohama và Tohoku. "Hatchigatsu Bon" (Bon tháng tám) thì tổ chức vào ngày 15 tháng 8 dương lịch, và là thời điểm chung nhất ở khắp nước Nhật. "Kyu Bon" (Bon cũ) được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch ở các vùng như phía bắc Kanto, Chugoku, Shikoku, và các đảo ở phía tây nam. Những ngày này không được xem là ngày nghỉ lễ chính thức ở Nhật Bản, nhưng theo phong tục người dân vẫn được cho phép nghỉ.

Obon có một số nét tương đồng với lễ kỷ niêm của người Mexico có tên là el Día de los Muertos, như là những phong tục liên quan đến đoàn tụ gia đình và chăm sóc mộ phần tổ tiên.

Obon là dạng viết tắt của Ullambana
(Japanese: 于蘭盆會 or 盂蘭盆會, urabon'e). Nó có nguồn gốc từ tiếng Sanskrit có nghĩa là "treo ngược lên" và chỉ đến một sự giải thoát to lớn. Người Nhật tin rằng ngày này những người chết có thể được thoát khỏi cảnh khổ của việc bị treo ngược trong địa ngục do những tội ác từ đời trước.

Bon Odori bắt nguồn từ câu chuyện về Mục Kiền Liên (Mokuren), một đệ tử của đức Phật, người đã sử dụng thần thông của mình để tìm kiếm mẹ của mình. Ông đã nhìn thấy mẹ mình bị rơi vào cảnh giới quỷ đói và đang chịu khổ. Rất đau khổ, ông tìm đến Phật và hỏi ngài cách để cứu mẹ khỏi địa ngục. Phật đã hướng dẫn ông dâng cúng lễ vật lên chư tăng, những vị vừa hoàn tất 3 tháng an cư kiết hạ, vào ngày 15 tháng 7. Vị đệ tử đã làm theo và nhờ đó, đã nhìn thấy mẹ mình được giải thoát. Ông cũng thấy được bản chất rộng rãi thật sự của mẹ mình và những hy sinh to lớn mà bà đã dành cho ông. Ông cảm thấy hạnh phúc vì mẹ mình đã được giải thoát và biết ơn công lao của mẹ mình nên đã nhảy múa một cách vui mừng. Điệu múa Bon Odori bắt nguồn từ hành động nhảy múa vui vẻ này, đó là thời điểm mà những tổ tiên và sự hy sinh của họ được tưởng nhớ và trân trọng. Xem thêm: Kinh Vu Lan Bồn (Ullambana Sutra)

Vì lễ hội Obon thường diễn ra trong cái nóng của mùa hè, những người tham dự thường mặc trang phục truyền thống yukata, một loại kimono với chất liệu vải mỏng và mát. Có rất nhiều hoạt động trong lễ hội Obon, như là: các cuộc đi chơi ngoài trời, các trò chơi dân gian, và nhiều món ăn mùa hè, đặc biệt là dưa hấu.

Lễ hội kết thúc với nghi thức Toro Nagashi , hay thả các thuyền giấy. Các con thuyền bằng giấy được xếp và thả theo các con sông như là biểu tượng để tiễn đưa linh hồn những người quá cố trở về thế giới của họ. Lễ hội này thường kết thúc với những đợt biểu diễn bắn pháo bông rất đẹp mắt.

(Nguồn: wikipedia.org)
Reblog this post [with Zemanta]

Sunday, July 19, 2009

Chấn hưng Giáo dục để nâng cao Năng lực cạnh tranh của Việt Nam

Chấn hưng Giáo dục để nâng cao Năng lực cạnh tranh của Việt Nam

ThS. Phạm Quốc Trung, Khoa QLCN. ĐHBK Tp.HCM

Đọc tựa đề, có lẽ mọi người sẽ cho rằng đây chỉ là ‎quan điểm chủ quan của tác giả nhằm nhấn mạnh vai trò của Giáo dục, chứ đâu thấy mối liên quan trực tiếp nào giữa Giáo dục và Năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghĩ như thế là hoàn toàn sai lầm, vì nếu xem xét kỹ trong chỉ số về Năng lực cạnh tranh quốc gia, ta sẽ thấy trong đó có hai thành phần quan trọng là Giáo dục và KHKT. Vì vậy, đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp lên năng lực cạnh tranh của mỗi nước. Đặc biệt, yếu tố cản trở nhiều nhất đến việc cải thiện năng lực cạnh tranh của Việt Nam hiện nay theo thống kê chính là yếu tố Giáo dục.

Trước tiên, chúng ta hãy xem biểu đồ sau:

Đây là biểu đồ so sánh năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam và 1 số nước xung quanh. Bảng xếp hạng này được tham khảo từ Trung Tâm Nghiên cứu Kinh tế Nhật Bản (http://www.jcer.or.jp/ ), trong đó sắp hạng 50 nước được quan tâm nghiên cứu.

Trong bảng xếp hạng này, dễ dàng nhận thấy, gần 30 năm qua năng lực cạnh tranh của Việt Nam không hề có tiến bộ, chỉ dao động ở ngưỡng 48 hoặc 49. Nếu so sánh với một số nước xung quanh, thì chỉ có Ấn Độ là bạn đồng hành với Việt Nam ở thứ hạng này. Nước có tiến bộ vượt bậc về năng lực cạnh tranh phải kể đến Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc. Còn Singapore luôn ở thứ hạng rất cao trong bảng sắp hạng này, nên không nói tới ở đây. Nước có năng lực cạnh tranh đi xuống gồm có PhilippinesIndonesia.

Như vậy, nếu nhìn vào bảng xếp hạng này, ta thấy Việt Nam nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì nên học tập theo tấm gương của Malaysia và Thái Lan vì các nước này cùng trong khối Đông Nam Á và có hoàn cảnh, năng lực và quy mô gần giống với Việt Nam.

Nếu xét kỹ hơn về các thành phần của chỉ số Năng lực cạnh tranh này, ta sẽ thấy rõ hơn bức tranh phát triển của Việt Nam trong 30 năm qua theo nhiều khía cạnh, và từ đó tìm ra được điểm yếu nhất để tập trung khắc phục.

Hãy nhìn vào biểu đồ chi tiết sau:

Biểu đồ trên so sánh thứ hạng của các yếu tố trong Năng lực cạnh tranh của Việt Nam theo thời gian, từ 1980 đến nay. Các yếu tố chính này gồm có: Hợp tác quốc tế (Internationalization), Doanh nghiệp (Enterprises), Giáo dục (Education), Tài chính (Finance), Chính phủ (Government), KHKT (Science&Technology), Hạ tầng (Infrastructure) và CNTT (IT).

Dựa vào biểu đồ này, ta nhận thấy, Năng lực cạnh tranh chung của Việt Nam không thay đổi từ 1980 đến nay không phải do các yếu tố trên không thay đổi, mà bởi có những yếu tố phát triển đi lên, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố tụt hậu đi xuống, khiến cho chỉ số chung không thể tăng như mong muốn.

Vậy yếu tố nào đã kéo Năng lực cạnh tranh của Việt Nam tụt lại? Nhìn vào biểu đồ, dễ dàng thấy ngay đó chính là yếu tố Giáo dục (từ thứ hạng 24 năm 1980 đã tụt xuống thứ hạng 46 năm 2008). Ngoài ra, KHKT của Việt Nam chưa bao giờ được đánh giá mạnh so với các nước (luôn đứng cuối bảng từ 1990 tới nay). Tuy nhiên, đây lại là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến con người, đến đội ngũ lao động, kỹ sư, các nhà khoa học… từ đó ảnh hưởng đến các yếu tố khác của sự phát triển. Điều này lí giải tại sao, Việt Nam mặc dù có nhiều tiến bộ ở các lĩnh vực như: Hợp tác quốc tế, tăng số lượng và vai trò của các loại hình DN, cải cách tài chính, phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng không nâng được chỉ số năng lực cạnh tranh chung.

Tại sao phải tập trung vào Giáo dục, thay vì các yếu tố khác cũng yếu kém, như: CNTT, Năng lực điều hành của Chính phủ, KHKT… Lí do chính là khi nhìn vào biểu đồ trên, ta thấy rằng tiềm lực về Giáo dục ở nước ta khá mạnh so với các lĩnh vực còn lại, vì ở những năm 1980, nước ta đã có thứ hạng khá cao về Giáo dục (hạng 24/50), trong khi đó CNTT, Chính phủ, KHKT đều nằm ở những thứ hạng thấp trong suốt gần 30 năm qua. Vì vậy, một khi được đầu tư xứng đáng, thay đổi tư duy quản lí lạc hậu, tạo điều kiện phù hợp cho sự sáng tạo và đổi mới phương pháp giáo dục… thì khả năng khôi phục lại vị trí xứng đáng của giáo dục Việt Nam là rất cao.

Từ phân tích trên, ta thấy rằng, để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế, việc tập trung đầu tư cho phát triển giáo dục, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và ứng dụng KHKT vào cuộc sống phải là ưu tiên hàng đầu, dùng nó làm đòn bẫy cho cả nỗ lực phát triển của xã hội.

Hơn nữa, xã hội loài người đang bước vào làn sóng thứ 3 của sự phát triển, làn sóng thứ 1 là thời đại Nông nghiệp, sự giàu có đặt trên việc sở hữu đất đai, làn sóng thứ 2 là thời đại Công nghiệp, sự thịnh vượng dựa trên sự sở hữu vốn tư bản, và làn sóng thứ 3 là thời đại Tri thức, sự thịnh vượng đặt trên việc sở hữu tri thức và khả năng sử dụng tri thức để tạo ra và cải tiến các sản phẩm và dịch vụ (theo Savage C., “Fifth Generation Management”). Chính vì vậy, ở thời đại này, quốc gia nào tạo được nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển giáo dục, thu hút nhiều nhân tài hơn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thì sẽ có được vị thế cao trong cộng đồng quốc tế.

Ngày nay, nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước để theo kịp đà phát triển của thế giới, việc nâng cao vị thế đất nước để hội nhập với xu hướng phát triển chung của nhân loại trong nền kinh tế tri thức là một nhu cầu vô cùng cấp bách. Điều này, đòi hỏi những chính sách đúng đắn của chính phủ trong việc phát huy các điểm mạnh hiện tại, khắc phục những yếu kém, bất cập trong hai lĩnh vực Giáo dục và KHKT, tiếp tục phát triển hơn nữa hạ tầng cơ sở và IT để tạo thuận lợi cho các yếu tố khác phát triển.

Trong thời đại tri thức, hơn lúc nào hết, Việt Nam cần phải tạo được môi trường thuận lợi cho Giáo dục đào tạo và NCKH, để từ đó nâng cao trình độ giáo dục chung của toàn dân. Chính phủ và ngành giáo dục cần chú trọng vào việc tạo ra và đáp ứng đủ nhu cầu về đội ngũ kỹ sư, công nhân tri thức, khoa học gia có đủ chất lượng, có khả năng tiếp thu tri thức của thế giới, ứng dụng vào thực tiễn công việc, sáng tạo và đóng góp và kho tàng tri thức chung của nhân loại. Ngoài ra, các nhà làm chính sách phải tạo được chế độ sử dụng và đãi ngộ hợp lí với đội ngũ lao động tri thức, bất kể nguồn đào tạo, nhà nước phải thể hiện thực tâm giữ và thu hút người tài, dù ở ngoài nước hay trong nước, vào những dự án, chương trình lớn của quốc gia. Làm được như vậy, Việt Nam đã chuẩn bị cho mình những điều kiện rất tốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển chung của thế giới trong thế kỷ 21.

Wednesday, July 15, 2009

Take time

TAKE TIME

Take time to work—It is the price of success.
Take time to think—It is the source of power.
Take time to play—It is the secret of perpetual youth.
Take time to read—It is the fountain of wisdom.
Take time to be friendly—It is the road to happiness.
Take time to love and to be loved—It is nourishment for the soul.
Take time to share—It is too short a life to be selfish.
Take time to laugh—It is the music of the heart.
Take time to dream—It is hitching your wagon to a star.

DÙNG THỜI GIAN

Dùng thời gian để làm việc - đó là cái giá cho sự thành công.
Dùng thời gian để suy nghĩ - đó là nguồn của sức mạnh.
Dùng thời gian để chơi - đó là bí quyết của sự trẻ mãi.
Dùng thời gian để đọc - đó là suối nguồn của trí tuệ.
Dùng thời gian để kết bạn - đó là con đường đến hạnh phúc.
Dùng thời gian để yêu và được yêu - đó là sự nuôi dưỡng tâm hồn.
Dùng thời gian để chia sẻ - vì cuộc đời quá ngắn đâu cần ích kỷ.
Dùng thời gian để cười - đó là âm nhạc của trái tim.
Dùng thời gian để mơ - sẽ không đủ thời gian để mà mơ mộng...

Bạn thường sử dụng thời gian của mình để làm gì ?

Saturday, July 4, 2009

Giá trị của niềm tin trong việc xây dựng xã hội VN ngày nay

Giá trị của niềm tin trong việc xây dựng xã hội VN ngày nay

Xã hội VN ngày nay có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhiều vấn nạn cần phải khắc phục để đất nước có thể phát triển bền vững trong lộ trình đi lên và hòa nhập với thế giới. Vậy thì trong các vấn đề đó, đâu là vấn đề nghiêm trọng nhất cần phải tập trung cải thiện trong việc xây dựng đất nước hiện nay? Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất đó là vấn đề khủng hoảng niềm tin.

Tại sao tôi lại cho là việc thiếu niềm tin là vấn đề nghiêm trọng nhất? Bởi nhìn vào xã hội ngày nay, ta thấy rất nhiều lo lắng, bất an, sợ hãi, nghi kỵ, ngờ vực, đề phòng… Mà tất cả những điều đó đều là biểu hiện của 1 nguyên nhân chung, đó là thiếu niềm tin lẫn nhau, thiếu niềm tin vào một giá trị đạo đức vĩnh hằng. Xin các bạn đừng nghĩ tôi muốn nói đến niềm tin tôn giáo ở đây, đơn giản chỉ là niềm tin vào con người, niềm tin vào một lí tưởng cao đẹp mà thôi.

Trước tiên, niềm tin là sự tin tưởng vào một ai đó, một việc gì đó, và cho rằng ai đó, việc gì đó là đúng bất chấp những lung lạc bên ngoài. Như vậy, khi nói đến niềm tin, chúng ta thấy có 2 đối tượng: người tin, và đối tượng được tin, nếu đối tượng được tin là con người thì đó phải là niềm tin 2 chiều, khi A tin B và B cũng tin A thì giá trị niềm tin mới được thiết lập.

Nhìn trong gia đình, nếu vợ chồng tin tưởng nhau, anh em tin tưởng nhau, cha con tin tưởng nhau… thì gia đình đó êm ấm biết mấy, hạnh phúc biết mấy. Rộng ra ngoài xã hội, nếu người chủ - người lao động tin tưởng nhau, xóm giềng tin tưởng nhau, nhà nước – nhân dân tin tưởng nhau thì xã hội thái bình, ai nấy cũng yên tâm làm việc, không còn những nghi ngờ, sợ hãi, lo lắng nữa.

Khi ta đã tin vào ai đó hay điều gì đó thì rất khó ai có thể thay đổi niềm tin này. Vì vậy điều quan trọng là cần phải đặt niềm tin đúng người và đúng chỗ. Niềm tin nếu đặt đúng đối tượng có thể là động lực để chúng ta hành động và vượt qua nhiều khó khăn trở ngại. Tuy nhiên, nếu niềm tin đặt sai chỗ, có thể khiến chúng ta trở nên mù quáng và hành động sai lầm hoặc suy sụp một khi nhận ra mình đã tin tưởng không đúng. Lịch sử đã từng chứng minh điều này, chẳng hạn: trong cuộc kháng chiến chống Mông Cổ dưới thời nhà Trần, nhờ tin tưởng vào tài lãnh đạo quân sự của Trần Hưng Đạo và sức mạnh kháng chiến của toàn dân, mà quân dân Đại Việt đã 3 lần đánh thắng đội quân hung hãn Nguyên Mông lúc bấy giờ; ngược lại, trong thời cận đại, triều đình nhà Nguyễn đã không tin vào khả năng chiến đấu của dân chúng, không tin rằng nước mình vào thời điểm đó đã quá lạc hậu về KHKT cũng như quân sự, cần phải thay đổi, học tập, phát triển, nên đã dẫn đến hậu quả là 100 năm Pháp thuộc.

Biết rằng niềm tin là vô cùng quan trọng để tạo nên sức mạnh thần kỳ, phi thường, điều này rất cần thiết trong giai đoạn đất nước đang chuyển mình như hiện nay. Nhưng điều khó khăn nhất đó là làm sao để thiết lập niềm tin của xã hội? Làm sao biết nên tin vào ai hay vào điều gì trong cái xã hội đảo điên, nhiều dối trá, lừa lọc này?

Vấn đề này đòi hỏi một nỗ lực mạnh mẽ và lâu dài của cả xã hội, nhưng việc dù khó mấy, nếu quyết tâm thì cũng có thể thực hiện được, chỉ cần có phương pháp đúng đắn. Giải pháp có vẻ cũng rất đơn giản, đó là đặt mọi giá trị trên nền tảng của Sự Thật, những giá trị đạo đức chung nhất phải được khôi phục, xây dựng, đề cao những tấm gương đạo đức trong xã hội. Cụ thể là: phải tôn trọng sự thật, mọi việc phải có luật lệ rõ ràng cụ thể, nhìn vào đó có thể dễ dàng phân biệt đúng sai, thật giả; dùng thật tâm để giải quyết công việc, không dối trá, quanh co, trách nhiệm và quyền lợi phải đi đôi, khi phát hiện giả dối phải nghiêm phạt; đề cao phẩm chất đạo đức, và những con người biết tôn trọng các giá trị và phẩm chất chung ấy, phát huy vai trò của các tổ chức dân sự, tôn giáo, phi chính phủ trong việc nêu cao tấm gương đạo đức, vì luật pháp chỉ ngăn được cái xấu ở bên ngoài, còn ‎niềm tin vào đạo đức có thể ngăn được cái ác bên trong mỗi con người.

Để làm được việc này, trước tiên đòi hỏi quyết tâm của toàn xã hội, kế đến là việc cụ thể hóa quyết tâm này bằng những chính sách, quy định của nhà nước và cuối cùng là những con người cụ thể, những nhà lãnh đạo có tài có đức, những công dân ở đủ mọi tầng lớp, ngành nghề… là những tấm gương sáng cho cả xã hội noi theo.

Xã hội vững, bởi càng tin cậy

Muốn tin nhau, phải lấy thực tâm

Lời ngay, tin tưởng nảy mầm

Đồng lòng, đồng sức, ngàn năm thái bình…

Vì vậy, để khắc phục những vấn nạn của xã hôi trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, đòi hỏi một quyết tâm to lớn nhằm khôi phục lại niềm tin giữa mọi người trong xã hội, niềm tin vào 1 lí tưởng cao đẹp và tương lai tươi sáng của đất nước. Niềm tin đó phải được đặt trên cơ sở đề cao sự thật, lời nói và việc làm phải thực tâm và trân trọng các giá trị đạo đức cao đẹp trong xã hội.

Trước khi kết thúc bài viết, xin mời các bạn hãy cùng tôi đọc 1 bài thơ với tựa đề “Sáng một niềm tin” và mong rằng đất nước VN sẽ mau chóng cất cánh khi giá trị niềm tin được khôi phục trong lòng mỗi con người.

Sáng Một Niềm Tin


Giữa bể khổ trần gian

Giữa gian trá muôn vàn

Niềm tin luôn tỏa sáng

Sưởi ấm cõi mênh mang

*

Niềm tin vào lẽ phải

Vào chân lý không hai

Thiện phải luôn thắng ác

Niềm tin đó không lay

*

Dẫu muôn ngàn gian khổ

Dầu gian hiểm rình vồ

Chẳng làm sao lay chuyển

Niềm tin giữa hư vô

*

Niềm tin còn sáng mãi

Vượt qua nỗi đau dài

Thời gian như đọng lại

Nở bừng trong sớm mai.

Wednesday, June 17, 2009

Hung Dao Vuong


Ba lần đánh bại quân Nguyên
Nước nhà nhớ mãi gương hiền thánh nhân
Hưng Đạo Vương thuở nhà Trần
Chiến công vang dội, bao lần lập công
Nguyên Mông dù mạnh, đừng hòng
Quân dân Đại Việt, một lòng sắt son
Diên Hồng, dấu vết vẫn còn
Hịch xưa (*) vang dội, cháu con giữ gìn
Thánh Trần, sáng mãi niềm tin
Trong lòng dân tộc, quê mình ngàn năm
Linh thiêng, khí phách - âm thầm
Hộ dân, hộ quốc, bao năm vững bền,
Sử xanh còn mãi khắc tên,
Cháu con vẫn mãi dựng đền – ghi công,
Gương xưa, nhớ mãi trong lòng
Anh hùng dân tộc, núi sông nghiêng mình…



(*) HỊCH TƯỚNG SĨ

"Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da quân giặc, nuốt gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc "đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ" làm nguy; nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta."

Saturday, June 6, 2009

Không sợ hãi

Hồi còn nhỏ, khi xem bộ phim Tây Du Ký, tôi rất thích nhân vật Tôn Ngộ Không hay còn gọi là Tề Thiên Đại Thánh. Trong trí óc non nớt của lũ trẻ bon tôi lúc bấy giờ thì hễ khi có yêu quái hoặc bất kỳ khó khăn trở ngại cản bước thầy trò Đường tăng đi thỉnh kinh, thì chỉ cần Tôn Ngộ Không xuất hiện thì mọi sợ hãi đều tan biến, mọi khó khăn đều dễ dàng vượt qua.

Sau này, khi lớn hơn, có chút hiểu biết về Phật pháp, mỗi khi gặp khó khăn, bất an trong cuộc sống, tôi thường nghĩ tới hình ảnh của Bồ tát Quán thế âm, vị đã phát lời nguyện cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh ở cõi Ta bà. Khi niệm danh hiệu Ngài, tôi thường cảm thấy bình tĩnh, không còn sợ hãi, sáng suốt đối phó với những nghịch cảnh và thường dễ dàng vượt qua. Người đời thường gọi ngài là Bồ tát Vô úy, nghĩa là ban tặng sự Không sợ hãi cho những ai nhớ nghĩ đến ngài. Tôi lại thấy rằng không phải Bồ tát ban phép, mà chính năng lực Vô úy trong mỗi chúng ta sẽ là sức mạnh giúp mình vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Tôn Ngộ Không hay Bồ tát Quán Thế Âm chỉ là hình tượng để giúp chúng ta tự tin và khôi phục năng luợng Vô Úy trong mỗi người, từ đó, có thể nhìn rõ thực tại, đối phó với mọi khủng bố, vượt qua mọi thử thách một cách bình tĩnh và đi tới phía trước.

KHÔNG SỢ HÃI

Sợ hãi làm ta mất trí khôn
Cúi đầu, nhắm mắt – sống vô hồn
Vô tình, trước cảnh đời đau khổ
Hững hờ, mặc vận nước sinh tồn.

Sợ hãi từ đâu xâm chiếm ta
Che đi ánh sáng – vốn chan hòa
Giết ta, trong lúc còn đang sống
Chẳng phải từ ngoài, tự chính ta

Vô minh, bóng tối phủ thế gian
Đem theo sợ hãi, bởi bạo tàn
Chúng xây thế giới bằng máu lửa
Bởi thế, yêu ma mới ngập tràn

Bình tĩnh, ngẩng đầu, mắt mở to
Định tâm kiên cố, sẽ không lo
Niềm tin tất thắng bao cuồng sợ
Vén bỏ mây đen – ánh sáng lòa…