Lời Phật dạy

"Không làm các việc ác, Siêng làm các điều lành, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy!" (Kinh Pháp Cú)

Sunday, November 25, 2012

LÀM VIỆC MỘT NGUỒN VUI

Gần đây, đọc được vài cuốn sách hay về mối quan hệ giữa công việc và cảm giác hài lòng/ hạnh phúc khi làm việc, cũng rút ra được vài điều ý nghĩa, nên giới thiệu để mọi người cùng tìm đọc.

Quyển 1: Nghệ thuật Hạnh phúc trong Công việc, tác giả Dalai Lama, biên dịch Khánh Vân, NXB. Tôn giáo, 2007

Quyển 2: Làm việc - một nguồn vui, tác giả Tarthang Tulku Rinpoche, dịch giả Thích Nữ Trí Hải (bản điện tử truy xuất tại http://www.quangduc.com/thoidai/90nguonvui.html )

Mỗi cuốn có 1 nét riêng bàn về các khía cạnh khác nhau ảnh hưởng đến niềm vui, hạnh phúc trong công việc. Nhưng qua đó, người đọc sẽ rút ra cho mình nhiều bài học bổ ích, đặc biệt là việc ứng dụng tinh thần nhà Phật trong công việc, từ chọn lựa công việc chơn chánh, cho đến việc đối phó, ứng xử với những hoàn cảnh bất như ý trong công việc... Dưới đây, là trích dẫn lời tựa của Quyển 2 ở trên để mọi người cùng tham khảo.

----------------------------------------------------------


LỜI TỰA (LÀM VIỆC MỘT NGUỒN VUI)


Đối với nhiều người ngày nay, công việc làm đã mất dần ý nghĩa. Nỗi chán chường này không chỉ giới hạn vào một số nghề nghiệp, môi trường hay tín ngưỡng nào, nó từ từ thấm lan khắp mọi ngõ nghách của công việc nói chung. Đây quả là điều bất hạnh, vì công việc vốn dĩ là một phương tiện rất hữu hiệu để chúng ta tìm được lạc thú sâu xa trong đời sống. Công việc có thể là một nguồn suối của sự tăng trưởng, một cơ hội cho ta hiểu thêm về chính ta và để phát triển những tương quan tích cực, lành mạnh với mọi người. Nếu nhìn công việc theo cách ấy thì ta sẽ thấy thực không có gì khác nhau giữa sự dành năng lượng tâm trí mình cho công việc và dành năng lượng để cải thiện sự tỉnh thức và để thưởng thức hương vị đời sống.

Tuy vậy thực không luôn luôn dễ dàng tìm cách khiến cho công việc trở thành một con đường vui sống. Trong khi làm việc với những học viên, tôi vẫn hàng ngày cố khuyến khích để họ tìm được trong chính họ những phương thức ngõ hầu rút được niềm vui, sự viên mãn từ công việc họ làm. Đây không phải là dạy dỗ theo ý nghĩa truyền thống, mà là những gợi ý, cốt để hướng dẫn họ trong công việc và trong sự tự mỡ mang của họ. Sách này có ra từ những ghi chú trong các buổi thảo luận hàng ngày, nó triển khai từ nhiều buổi nói chuyện thân mật. Phương tiện khéo (tên sách nguyên ủy, đã được DG đặt lại) đề cập những cảnh ngộ tiêu biểu mà người ta thường gặp trong công việc và trong đời sống hằng ngày. Đấy là những thói quen mẫu mực tư duy và hành xử vốn thường ngăn cản chúng ta đạt được mục đích mình và tìm được ý nghĩa chân thật trong đời sống.

Thay đổi những mẫu mực đã thành nếp từ thuở nhỏ là một bài học khó nhất cho cả người dạy lẫn người học. Chúng ta thường tưởng rằng những tập quán ta đã quen suốt đời thì không thể nào thay đổi, bởi vậy ta cảm thấy mình bị giới hạn trong một vài việc. Nhưng kỳ thực là không có giới hạn nào cho những gì ta có thể thành tựu, nếu ta thực tình đón nhận mọi cơ hội mà cuộc đời đem lại cho ta. Ta có thể phá vỡ những giới hạn do mình tự tạo, làm những thay đổi lớn, khám phá những khả năng mới mà ta chưa bao giờ biết là mình có được. Quan trọng nhất là ta có thể bừng tỉnh trước những khả năng thực thụ của ta.

Dùng công việc làm phương tiện để tự mở mang và trưởng thành đã đem lại một thay đổi sâu xa trong đời các học viên và cả trong đời tôi. Tôi đã lập nguyện san sẻ với người khác những gì tôi học được, đây là trách nhiệm của tôi, là sự đóng góp của tôi cho cuộc đời. Công việc đã giáo dục tôi một cách phong phú, tôi vô cùng biết ơn về biết bao nhiêu cơ hội tôi có được để học tập và san sẻ.

Trong 20 năm qua, tôi đã có dịp quan sát những lề lối làm việc và lối sống ở cả Đông lẫn Tây phương. Sau khi rời Tibet năm 1959, tôi dạy học và làm việc ở Ấn Độ 10 năm trước khi qua Mỹ. Từ 10 năm nay tôi vẫn làm việc ráo riết hàng ngày cùng với những người Mỹ thuộc nhiều môi trường, nghề nghiệp khác nhau, ở các lãnh vực quản trị kinh doanh, giáo dục, hành chánh, tư vấn, xây dựng, in ấn sách và các nghệ thuật tạo hình.

Mặc dù đóng vai giảng dạy, tự thâm tâm tôi là một kẻ học trò, học sống và học bản tính con người. Hoàn cảnh tôi, sự tu tập của tôi ở Tibet không trực tiếp chuẩn bị cho đời sống trong văn hóa Tây phương, bởi vậy tôi đã vô cùng quan tâm học hỏi từ kinh nghiệm làm việc ở Tây phương. Thông thường khi thấy một nền văn hóa bằng con mắt người ngoài, ta có thể có một nhãn quan mới về những hoàn cảnh, những thái độ mà người trong cuộc thường cho là bình thường. Tôi đã thấy và đã cảm được nỗi chán chường mà nhiều người cảm thấy đối với công việc của họ.

Thế mà tôi lại thấy công việc của mình rất bõ công, rất hứng thú, mặc dù công việc ấy không phải luôn luôn dễ dàng gì.

Mục đích của sách này là san sẻ với bạn đọc những kinh nghiệm ấy, mong chúng có thể giúp bạn tìm ra nguồn vui lớn trong công việc và trong đời sống. Mỗi con người là độc nhất vô nhị, mỗi hoàn cảnh sống cũng khác nhau, bởi thế mỗi cá nhân có thể tìm thấy trong đây một điều riêng có giá trị với họ, để thúc đẩy họ tìm cách nhận ra những khó khăn, rồi vượt qua chúng, và tiến lên để trưởng thành và được thỏa mãn.

Khi sử dụng phương tiện khéo, ta đi thẳng vào công việc mình, hành động ngay để giải quyết vấn đề, và khai mở tiềm năng tự nhiên của ta. Mỗi chúng ta đều có tiềm năng ấy và nếu nhận ra được nó thì ta có thể san sẻ với ngưới khác những tuệ giác và tình yêu của mình đối với công việc. Cuối cùng ta có thể đem lại lợi ích và niềm vui cho tất cả mọi người, để mọi người cũng học tập cách sống những cuộc đời đem lại cho họ thỏa mãn.

Có thể có người ưa triển khai những tư tưởng này cho phù hợp với tiến trình công việc của riêng họ, với sự tăng trưởng nội tâm họ. Ai đề ra những ý tưởng này trước tiên là điều không quan trọng, điều quan trọng là cái giá trị của việc thực hành những ý tưởng này trong công việc và trong mọi sự khác nhau của cuộc sống.

Đây là một thời đại thật khó sống, khó mà làm mọi sự cho thật có ý nghĩa, nên đa số người đang tìm cách làm cho công việc và đời sống họ đem lại niềm vui và ý nghĩa. Và đây là một vài suy tư tích lũy trong nhiều năm qua, mà tôi muốn san sẻ cùng các bạn.

Tôi muốn bày tỏ niềm biết ơn sâu xa đến các học viên, cộng sự viên ở nhà xuất bản Dharma Publising về sự giúp đỡ của họ trong việc xuất bản sách này. Sự đóng góp thì giờ và năng lực của họ thật vô giá trong việc cho ra quyển sách này.

                                                             TARTHANG TULKU
Tháng 10, 1978

Wednesday, November 7, 2012

Tưởng Nhớ Ơn Thầy


Tưởng Nhớ Ơn Thầy

Con chẳng thể nào quên buổi đầu đến lớp
Đã cho con bao cảm xúc rộn ràng
Trường thì lạ và bạn bè chưa có,
Chưa đến giờ luẩn quẩn dưới chân thang.
Thầy đã đến và nhìn con rất lạ,
Thật nghiêm trang mà thân ái dịu dàng
"Vào lớp đi, can đảm lên chú bé
Ba bữa thôi lại phá xóm phá làng"
Lời nói thầy thẳng băng như thước kẻ,
Mà sao con lại thấy ấm cả lòng,
Đôi mắt thầy trầm ngâm và lặng lẽ
Thắp trong tim con bao ánh lửa hồng.

Kể từ đó con say mê học tập,
Thôi biếng lười, thôi phá lớp xé rào.
Lời thầy giảng âm vang cao lồng lộng
Trăm điều hay, lẽ phải, sống thanh cao
Đời học sinh có đến trăm thầy giáo
Đã cho con bao tình cảm tin yêu
Đã cho con sự hiểu biết thật nhiều,
Từ cuộc sống, từ kho tàng tri thức.
Nhưng riêng thầy, thầy ơi, sự thực
Đã cho con rướm máu tâm hồn
Bởi chiều sâu thăm thẳm của lòng con,
Thầy đã tới và giúp con biết sống.

Kể từ đó, khi đáy lòng con rung động
Hòa nhịp vào cuộc sống của nhân gian
Con vui tươi vẫn học tập chăm ngoan
Nhưng con hiểu cả chiều sâu sự việc.
Con thể hiện lòng yêu đời tha thiết,
Yêu con người, yêu cuộc sống vô biên,
Biết chế ngự mình trước những đảo điên,
Dẫu nghịch cảnh, vẫn điềm nhiên khoan thứ.
Nét đẹp lòng thầy mỗi khi xử xự,
Thật dịu dàng, sắc sảo cánh hoa bay,
Đối với người trên, kẻ dưới giữ lòng ngay
Đối với mình biết dung nhân khắc kỷ

Và hôm nay, con đã làm thầy giáo
Bên bảng đen, trường lớp vẫn còn đây
Nhưng bóng thầy xưa như cánh hạc bay
Đã về cõi vô cùng xa, lồng lộng
Và đâu đó, giữa biển trời cao rộng
Lòng của thầy hòa nhập với lòng con
Ước mơ xưa thầy, giấc mộng vàng son,
Con sẽ viết nên trong cuộc đời cách mạng...

(Phạm Trường Linh)

Monday, October 29, 2012

Thi kệ về tiền bạc


Mấy ngày nay, tự nhiên nhớ lại mấy câu thơ về tiền bạc Bố đọc tặng vợ chồng mình trong ngày đám cưới, thấy thật thấm thía. Tiền bạc đúng là có ý nghĩa rất lớn, nhưng nó không phải là cái quyết định hạnh phúc, mà chính nhận thức về nó và cách sử dụng nó mới quyết định hạnh phúc trong cuộc đời.

Bố không còn nữa, nhưng lời dạy của Bố con sẽ mãi ghi nhớ và cố gắng thực hiện. Post lại đây để ghi nhớ trong lòng và ứng dụng trong cuộc sống.

"Ai có của bỉ khinh cũng mặc,
Đừng vì tiền gay gắt với ai,
Có ra thì đỡ xây xài,
Không thì nhịn chiụ chớ cay đắng lòng,

Nghèo thì nhớ lòng trong dạ sạch,
Giàu thì nên bố đức thi ân,
Có dư chớ hưởng riêng thân,
Nên cho kẻ khác lây phần ấm no.

Được như vậy, được kho công đức,
Sống đời đâu khổ cực vì đời,
Trong tâm thường được thảnh thơi,
Tuy trong cõi tục mà đời thần tiên..."

(Nguồn: "Thi kệ về tiền bạc" của Thầy Thanh Sĩ)

Sunday, October 14, 2012

Khóc lên đi, hỡi quê hương yêu dấu

Khóc lên đi, hỡi quê hương yêu dấu 
 
Cuộc chơi khắc nghiệt vô cùng
Bốn bề cạm bẫy trùng trùng dã man
Kể từ đầu trận mở màn
Quê hương thấy được điêu tàn mấy khi

Người về, ai bước chân đi,
Thành xiêu phố lạc kinh kỳ tang thương,
Tiếng thu rời rụng đoạn trường
Biển khơi lớp sóng trùng dương mấy mùa.

Em ơi ! hoa nở từng mùa
Mà quê anh cả bốn mùa không hoa,
Hay là chết mất hồn hoa,
Chỉ còn sương khói đường ra biên thùy
Tiếng mưa rờn rợn lối đi
Tiếng sương rụng xuống chiều đi không về
Đã bao chiến sĩ gươm thề
Dưới trăng mài kiếm trọn thề nước non
Mong cho hạn cuộc vuông tròn
Máu xương đã chất thành con sông dài
Quê hương vọng tiếng u hoài
Còn trông ngóng một ngày mai yên bình

PHẠM TRƯỜNG LINH

Sunday, September 23, 2012

Vào cuộc vô thường

Vào Cuộc Vô Thường

Chào nhau ngả nón bên đường
Em đi vào cuộc vô thường mà chơi
Trời sinh chiếc lá phải rơi
Tiếng chim phải lảnh lót đời tịch liêu
Sợi vàng
cho nắng ban chiều
Xanh xao
cho ánh trăng điêu tàn và
Lửa hồng cho gió đông qua
Giáo gươm cho cuộc phong ba chuyển dời

Yêu thương cho ấm hồn người
Prajna bỉ ngạn cho đời trầm luân...

Phạm Trường Linh

Tuesday, September 11, 2012

Một năm rồi anh nhỉ ?

Một năm rồi anh nhỉ ?

Vậy đó một năm anh đi từ đấy Thỏang như cơn gió nhẹ thổi qua đời Buổi ra đi không nói kịp một lời Mẹ ở lại cơn mơ nào có thấy ?
Mẹ vẫn gọi như hàng đêm vẫn đợi Bóng anh về, dõi mắt ngóng trông theo Nhớ thương đầy trong ký ức nhăn nheo Hình ảnh cũ mỗi ngày qua mỗi mới
Căn nhà rộng vang tiềng bầy con trẻ Lúc quây quần vẫn nhắc đến cha xưa Dáng ai ngồi trong nắng sớm chiều mưa Nghe thấp thóang bước chân về - rất khẽ
Anh sải bước hiên ngang trong cõi mộng Khi hiểu rồi câu "Sắc tức thị không" Hiểu mọi người lần lượt sẽ qua sông Phận lữ khách phải lìa xa Bến Sống
Kể làm chi một năm hay một kiếp Một làn hơi thôi nhé bước sang bờ Chuyện tử sinh ai có thể hẹn giờ ? Người ở lại mai về khi rũ nghiệp
Vây có chi mà buồn đau thê thiết Vây có gì mà cay đắng bi thương Anh đã đi , trong bóng nắng Vô Thường Hòang hôn lặn chào bình minh giã biệt
Chúng ta đến và đi như ngọn gió Níu làm sao dư ảnh với thời gian Trót sinh ra , hoa phải có khi tàn Anh cảm nhận hồn xanh trên ngọn cỏ
Thế là hết một năm rồi anh nhỉ ? Ngày giỗ đầu xin thắp nén tâm hương …..
Nguyên Cẩn ( 3/9/ 2012)

Friday, August 24, 2012

Bông hồng cài áo

Gần tới rằm tháng 7, mùa Vu Lan báo hiếu, tự nhiên thích nghe lại bài Bông Hồng Cài Áo, nên post lại ở đây, để nhắc nhở bản thân và mọi người là một mùa Vu Lan lại về. Vào mùa báo hiếu này, mọi người nên tự ngẫm lại xem liệu mình đã làm được gì để báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn của cha mẹ hay chưa, nếu chưa thì hãy cố gắng thực hiện một việc gì đó dù là nhỏ nhoi nhất. Chúc mọi người 1 mùa Vu Lan an lạc, hạnh phúc!

Thursday, August 9, 2012

Vài góp ý cải tiến hệ thống xe buýt Tp.HCM


Vài góp ý cải tiến hệ thống xe buýt Tp.HCM 

Gần đây có dịp đi xe buýt nhiều, do phải về quê thăm vợ con, nên cũng có điều kiện hiểu thêm về hệ thống xe buýt đô thị ở TP.HCM. Có thể đánh giá chung là so với trước đây, hệ thống xe buýt ở TP.HCM đã có nhiều cải tiến, như: số tuyến nhiều hơn, cung cách phục vụ chuyên nghiệp hơn, thông tin và bản đồ các tuyến nhiều hơn... Tuy nhiên, đó là so với trước đây thôi, chứ so với yêu cầu về chất lượng của một hệ thống xe buýt hiện đại thì cũng còn nhiều vấn đề cần cải tiến, như: hệ thống thông tin, hình thức vé, cơ sở vật chất và cách thức lên xuống xe... Qua kinh nghiệm đi tuyến xe buýt trước nay, cùng với những quan sát gần đây khi đi tuyến Sài Gòn-Củ Chi và Củ Chi-Hậu Nghĩa, tôi có thể rút ra một số vấn đề cần cải tiến. Ngoài ra, bằng việc đối chiếu, so sánh với hệ thống xe buýt ở Kyoto, Nhật Bản, mà tôi cũng có điều kiện đi nhiều trong thời gian du học, hy vọng sẽ có thể rút ra một số góp ý giúp cải tiến sự vận hành của hệ thống xe buýt ở TP. HCM nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

Vấn đề đầu tiên đối với hệ thống xe buýt Tp. HCM hiện tại là hệ thống thông tin còn thiếu và chưa rõ ràng. Lấy ví dụ, khi muốn tra cứu tuyến xe buýt, khách đi xe lần đầu sẽ rất vất vả vì không biết phải tìm kiếm thông tin ở đâu để trả lời rất nhiều thắc mắc, như: đi xe số mấy, đón xe chỗ nào, lúc mấy giờ, có cần phải đổi chuyến hay không... Những thông tin như thế chưa được in và phát một cách rộng rãi tại các bến xe ở TP.HCM. Hiện tại, để tra cứu tuyến xe, hành khách thường phải hỏi thăm người quen biết, hoặc tự mình tra cứu trên các bảng mô tả tuyến đường ở các trạm xe buýt. Tuy nhiên, thông tin chỉ dẫn thường khó đọc và không đầy đủ. Gần đây hơn, hành khách có thể tra cứu các thông tin trên ở website của công ty xe buýt, tuy nhiên thông tin cũng ở dạng liệt kê các tuyến đường đi qua, mà chưa được tích hợp với hệ thống bản đồ trực tuyến và kết nối với các phương tiện giao thông công cộng khác. So với Việt Nam, hệ thống thông tin xe buýt của Nhật tốt hơn hẳn. Ở Nhật, các thông tin về tuyến xe buýt thường được in rõ ràng, đầy đủ và được phát miễn phí ở các bến xe, trung tâm thông tin. Ngoài số lượng phong phú, chất lượng thông tin của các Bản đồ tuyến xe buýt cũng hơn hẳn ta. Thay vì chỉ liệt kê tên đường đi qua của mỗi tuyến, một bản đồ tuyến đường xe buýt được sử dụng biểu diễn lộ trình của các tuyến xe buýt đi qua trạm đó, với mỗi tuyến là một màu khác nhau. Bản đồ này được in to, rõ tại mỗi trạm dừng và trên các tờ rơi được phát miễn phí ở các trạm thông tin khắp thành phố. Hơn nữa, khi bạn đến bất kỳ trạm xe buýt nào, bạn sẽ biết được giờ chạy của tuyến xe mình quan tâm, và biết được còn phải đợi bao nhiêu phút nữa. Ngoài ra, việc tra cứu tuyến đường ở Nhật được thực hiện rất dễ dàng từ website hệ thống thông tin giao thông tích hợp của thành phố. Từ hệ thống này, chỉ cần đưa vào điểm xuất phát, giờ khởi hành và điểm đến, hệ thống sẽ tìm ra các phưong tiện giao thông có thể đi, tuyến xe cần đi, thời gian đi và giá vé tương ứng. Điều này giúp cho hành khách tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức tra cứu, đồng thời thúc đẩy nhu cầu đi lại bằng các phương tiện vận chuyển công cộng của thành phố.

Vấn đề thứ hai là hình thức phát hành vé xe. Ở TP. HCM hiện chỉ có 2 loại vé là vé xe tháng và vé đi từng lượt, đều dưới dạng giấy in. Vé lượt được bán cho hành khách trên từng lượt đi bởi nhân viên soát vé, còn vé tháng có thể mua tại các quầy vé hoặc mua trên xe. Còn ở Nhật, hành khách có thể mua vé trên xe, tại quầy bán vé ở các nhà ga, hoặc các máy bán vé tự động, và hình thức vé thì rất phong phú. Chẳng hạn, hành khách có thể trả tiền trực tiếp khi đi xe, mua vé ngày, vé tuần, vé tháng hoặc vé dạng thẻ trả trước và có thể nạp tiền về sau. Với vé ngày, hành khách có thể lên xuống xe buýt bao nhiêu lượt trong ngày cũng được. Ngoài ra, còn có các dạng vé khuyến khích du lịch, cho phép hành khách đi lại bằng nhiều phương tiện trong 1 khoảng thời gian hoặc trong 1 khu du lịch. Điều này có lợi cho cả du khách và các hãng vận tải, khách có thể tiết kiệm chi phí đi lại nhờ các vé loại này, còn các tuyến xe thì tăng thêm lượng khách.

Vấn đề thứ ba là cơ sở vật chất, trang thiết bị trên xe, đây cũng là lĩnh vực có nhiều vấn đề cần cải tiến nhất. Đầu tiên, đó là vấn đề giữ gìn vệ sinh trên xe. Có thể nói cảm giác chung là xe buýt không được sạch, máy lạnh không đủ mát, thiếu các ghế ngồi dành riêng cho người già, tàn tật và phụ nữ mang thai. Nếu không được làm vệ sinh thường xuyên, khó có thể đảm bảo chất lượng phục vụ và duy trì hình ảnh chất lượng cao. Việc vệ sinh xe còn phải gắn liền với việc kiểm tra định kỳ nệm chỗ ngồi, tấm trãi sàn, màn che nắng, cung cấp các thông tin hướng dẫn trên xe... Khi xe quá đông, cần bố trí chỗ đứng thoải mái, có tay cầm phù hợp với chiều cao người Việt Nam. Khi trời mưa, cần có miếng dậm chân ở lối lên để hạn chế sàn xe bị dính dơ. Ngoài ra, cũng cần bổ sung các hướng dẫn bằng tiếng Anh hoặc hình vẽ để khách nước ngoài có thể hiểu được. Việc phát triển các tuyến xe buýt mới nối liền các khu vực có nhu cầu đi lại nhiều hoặc tăng mật độ một số tuyến đông khách cũng cần được cân nhắc để thoả mãn hơn nữa nhu cầu đi lại của khách.

Vấn đề sau cùng là cách thức lên xuống xe. Hiện nay, trên mỗi xe buýt ở Việt Nam thường có 2 người là Bác tài và nhân viên phụ trách thu tiền, nhân viên này còn làm nhiệm vụ hỏi xem khách xuống chỗ nào để nhắc Bác tài dừng xe cho khách xuống. Tuy nhiên, số lượng khách thì nhiều, nên không thể nào nhớ hết được. Vì vậy, cách làm thông thường là khi đến trạm nào hay có khách xuống, nhân viên này sẽ hỏi lớn lên xem trên xe có ai xuống trạm XYZ này hay không, nếu có thì nhắc Bác tài dừng xe. Cách làm này thường dẫn đến sự ồn ào trên xe và đôi khi khách bị đi lố trạm vì trạm khách cần xuống bị quên hỏi. Ở Nhật, trên xe buýt chỉ có một mình Bác tài, nhưng việc lên xuống xe vẫn rất hiệu quả và yên ả. Cách làm như sau, trên xe có một bảng thông tin điện tử để thông báo tên trạm sắp tới và các đoạn băng ghi âm sẳn để hướng dẫn các địa điểm khách có thể xuống và chuyển sang các tuyến khác. Trên mỗi ghế ngồi đều có một nút nhấn, nếu khách muốn xuống trạm tới chỉ việc nhấn nút này, khi đó đèn báo hiệu sẽ bật đỏ và Bác tài biết sẽ dừng ở trạm kế. Ngoài ra, với máy thu tiền và đổi tiền được gắn trên xe, khiến cho khách hàng dễ dàng trả tiền trước khi xuống xe, và bác tài có thể kiểm soát được việc trả tiền. Vì vậy, mọi việc diễn tra một cách trật tự và không có một tiếng ồn, chỉ trừ tiếng Cám ơn của Bác tài và hành khách.

Nói tóm lại, trên đây là một vài ghi nhận nhanh về cách vận hành thực tế của một vài tuyến xe buýt ở TP. HCM và một vài gợi ý cải tiến dựa vào kinh nghiệm khi đi xe buýt ở Kyoto, Nhật Bản. Các gợi ý tập trung ở 4 khía cạnh chính: cải thiện hệ thống thông tin xe buýt, mở rộng loại hình vé, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ, và cải tiến hình thức thông tin về nhu cầu xuống xe của khách. Có thể những góp ý này chưa thật đầy đủ, nhưng hy vọng chúng có thể giúp ích được phần nào cho những người làm công tác quản lý vận hành hệ thống xe buýt ở Việt Nam. Từ đó, làm cơ sở để nghiên cứu kỹ hơn và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giao thông công cộng của thành phố theo chuẩn khu vực và quốc tế, để có thể đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu đi lại của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và tăng hiệu năng vận tải cho các hãng xe buýt.

TS. Phạm Quốc Trung,
Khoa Quản lý Công nghiệp, ĐHBK TP.HCM

Friday, July 27, 2012

12 Vấn đề xã hội dưới cái nhìn Phật giáo

12 Vấn đề xã hội dưới cái nhìn Phật giáo

Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phần xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách, …Đức Lạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội tham của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên. Với phong thái gần gũi, chân thật và giản dị, và qua những câu trả lời này, phần nào đó trả lời câu hỏi: tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhiều người, đặc biệt là ở các nước phương Tây yêu mến đến thế.

1.Kính thưa Ngài, khi còn bé Ngài đã tỏ ra phi thường. Những trẻ em lo âu cho tương lai của tinh cầu đã thành lập một hội đoàn. Ngài có đều gì muốn nói với trẻ em ngày nay?
Tương lai là cái gì ở trước mặt chúng ta, và vì vậy, nó rất quan trọng. Trẻ em có trách nhiệm về tương lai ấy. Vì rằng bản tính con người căn bản là tốt, nên trẻ em, khi còn rất nhỏ, không phân biệt lắm giữa người này và người nọ. Các em có một tình thương và lòng nhân tự nhiên. Ví dụ đối với các em, nụ cười của người đối diện quan trọng hơn chủng tộc, quốc tịch hay văn hóa của họ. Điều này, theo tôi rất đáng quý và nó khiến tôi hy vọng ở tương lai. Nhưng mặt khác thì tôi lại thấy hơi lo: trẻ em đương nhiên có tâm hồn cởi mở và tốt bụng, nhưng một vài khía cạnh của nền giáo dục mà các em hấp thụ làm tăng thêm mối chia rẽ giữa các em, điều này chung cục sẽ tạo nên hố ngăn cách giữa trẻ em và những người khác.
Vì vậy,tôi thấy là song song với giáo dục, điều tối cần là phải phát triển lòng nhân mà bẩm sinh các em vốn có. Nghĩa là giáo dục phải hòa hợp với bản chất nhân hậu của trẻ. Điều chính là nuôi dạy nó trong một môi trường thương yêu và trìu mến. Mặc dù, lý tưởng mà nói rằng, nếu phải lựa chọn nhiều đức tính rất quý khác và lòng nhân, chắc chắn tôi sẽ chọn lòng nhân.
Thật vậy, giáo dục cùng với trí thông minh bẩm sinh của con người, dù quan trọng cách mấy cũng không đủ để tạo dựng tương lai. Tâm hồn chúng ta phải thấm nhuần đức vị tha, bằng cách cảm nhạn giá trị nhân bản nòng cốt như tình thương đồng loại. Hãy tự tạo cho mình lòng nhân và tinh thần khoan dung; hãy cho trí thông minh của ta phong phú lên nhờ đức tính ấy, và khai thác những đức tính có được giáo dục, để cả chúng ta và xã hội quanh ta đều được mãn nguyện và hạnh phúc.

2. Tại sao ở phương Tây cha mẹ và con cái lại “thường bất hòa” nhu vậy?
Tôi cũng chẳng biết nữa. Có nhiều yếu tố và đều kiện như: thói quen, phong tục và tấm gương cho trẻ noi theo. Điều có thể tạo nên xung đột trong gia đình. Dĩ nhiên thật đáng buồn khi mà giữa cha mẹ và con cái, tình thương yêu không còn nữa. Tôi không thể giải thích những mối bất hòa như vậy bằng một nguyên nhân duy nhất nào. Vì có nhiều nguyên nhân, nên khi tìm cách giải quyết văn đề, phải nhận định chúng một cách bao quát, toàn diện.

3. Những quan điểm chính trị và kinh tế của các nước phương Tây đã vận hành tương đối tốt trong thập niên 1960, nhưng mọi sự không ổn trong thập niên này. Người ta không còn thấy bằng lòng nữa. Làm sao chỉnh đốn lại tình thế?
Từ lúc hãy còn rất bé, tôi đã ham thích kỹ thuật. Một số người cho rằng chính việc phát triển kỹ thuật đã không hoàn toàn đáng mong muốn. Tôi thì không nghĩ vậy. Tôi nghĩ rằng tất cả điều do ở thái độ chúng ta, và chúng ta có quyền sử dụng nó và điều tốt hay điều xấu. Vậy nên, tất cả đều tùy thuộc vào động cơ thúc đẩy chúng ta, vào cách chúng ta áp dụng kỹ thuật. Tôi nghĩ hiện nay chúng ta đang chứng kiến một sự tăng gia kiến thức sâu rộng, nhưng người ta lại không quan tâm phát triển lòng tốt, thiện tâm và tình thương yêu đồng loại cho bằng quan tâm đến kiến thức.
Tuy vậy, tôi nghĩ rằng hiện nay mọi sự đã rất rõ ràng. Con người không phải là sản phẩm của máy óc. cho nên không mong gì có được hạnh phúc thật sự nếu chỉ tùy thuộc vào ngoại cảnh. Dĩ nhiên, chúng ta cần có một tối thiểu tài sản vật chất, nhưng nó không phải là nguyên nhân mang lại hạnh phúc. Những nguyên nhân thật sự để được hài lòng mãn nguyện phải tìm trong nội tâm ta. Tôi nghĩ đều ấy rất rõ.
Mặc dù khó giải thích tiêu này, tôi xin cố gắng diễn tả ý nghĩa của lời giải quyết ấy. Trước hết phải nhìn nhận hạnh phúc thể hiện trong tâm hồn chúng ta. Những kẻ chỉ suy nghĩ bằng khoa học kỹ thuật, với chủ trương là có thể giải quyết và hoàn tất mọi chuyện nhờ có tiến bộ, đều là cực đoan. Tôi phải nhìn nhận đâu là giới hạn của một lối nhìn như vậy. Khởi đầu bằng cách định đường ranh này khiến chúng ta khỏi phải ngỡ ngàng khi gặp những trở lực ngoại giới. Theo ý tôi, khi gặp khó khăn chúng ta đừng nên quá gần mà quan sát chúng. Ngược lại, hãy đứng xa ra một chút, nhìn với một tam hồn cởi mở hơn, trong một bối cảnh bao quát hơn; khi ấy chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp dễ dàng hơn. Ví dụ chúng ta đang gặp vấn đề nan giải. Nếu cứ đứng thật gần mà nhìn, ta sẽ thấy khổ đến không chịu nỗi, vì vậy cứ phải suy gẫm toàn những mặt tiêu cực. Ngược lại, quan sát vấn đề từ một khoảng cách, biểu lộ một cung cách thoải mái hơn, và xét vấn đề dưới những góc độ khác nhau, thì giúp chúng ta tìm được những khía cạnh tích cực của tình huống. Tôi thấy là cần phải kết hợp trí thông minh tự nhiên của mỗi người với lòng can đảm, để tạo ra niềm tin thật sự. Kinh nghiệm riêng đã dạy tôi rằng nhờ có thái độ này mà ta để đạt đến sự yên tĩnh của tâm hồn.

4. Các chính tri gia có thể có biện pháp nào để cho người dân được sung sướng hơn?
Tôi nghĩ vai trò này không chỉ giới hạn cho các chính trị gia mà thôi. Nó liên quan đến mọi người, những nhà giáo dục, khoa học gia, những người thiết lập các lý thuyết chính trị, các nhà tâm lý học, những người chuyên về khoa học tâm linh, những nhà trí thức. Tóm lại, việc tìm kiếm những phương thức cho sự bình an nội tâm là công việc của mỗi người. Ví dụ ngành y khoa ngày càng khám phá thêm nhiêu tương quan giữa sự thanh thản tâm hồn và sự lành mạnh thể xác. Đó là những công trình nghiên cứu đáng được phát triển thêm về chiều sâu.
Tôi phải nói rằng, quý vị trong hệ thống thông tin báo chí ở thời điểm này đóng vai trò rất quan trọng. Hệ thống thông tin báo chí hiện nay thuộc về một thời đại tân tiến và trong một phương diện, tôi tin ngành báo chí hành động như một nhà giáo dục, như một nhân tố kích thích tâm hồn con người. Như vây quý vị có một vai trò rất đặc biệt. Về điều này, tôi xin trình bày với quý vị một vài ý kiến: Tôi có cảm tưởng là ngành báo chí thông tin chú ý quá nhiều đến mặt xấu của những hoạt động của con người, khiến cho quần chúng có cảm tưởng là bản tính con người hoàn toàn xấu. Khi nghĩ như thế, tự nhiên người ta chán nản và thật sự có nguy cơ mất hết hy vọng. Loài người có bao nhiêu chuyện để đau khổ, dù chỉ trong phạm vi hạn hẹp của gia đình. Dù có muôn vàn vấn đề mà con người gặp phải, vẫn có một tiềm năng để biến đổi: vẫn có thể làm cho hoàn cảnh đó tốt đẹp hơn, vì thương cảm và từ bi ở trong bản tính của chúng ta. Bằng cách liên kết thông minh của con người với một động cơ thúc đẩy tốt lành, chúng ta có thể thay đổi cuộc đời của chúng ta, và cải tạo xã hội. Đối với tôi, đây là điều then chốt. Vì vậy tôi nghĩ rằng khi trình bày những vấn đề có quan hệ đến con nguồn thì quý vị nên trình bày một cách quân bình hơn. Dĩ nhiên tất cả những mặt xấu này của cuộc đời cũng đều quan trọng, chúng cho báo chí những chất liệu tốn nhưng cúng đừng quên đưa ra những mặt tốt của cuộc đời, căn bản trên bản chất con người và trí thông minh của ta.
Gần đây, trong một số quốc gia người ta bàn cãi nhiều về vai trò của báo chí. Có nên nói hoạch toẹt hết mọi chuyện không? Phải nói cách nào? Chỗ nào trong đời tư, báo chí không được đụng đến? Tôi có vài ý kiến về vấn đề này, nhất là đối với những nhân vật lãnh đạo. Có trường hợp mà một số vị này không cư xử đúng đắn trong cương vị của họ, không tỏ ra có nguyên tắc hay kỷ luật tự giác. Trường hợp này tôi nghĩ rằng chỉ có báo chí mới có quyền năng kiểm điểm, và đưa ra ánh sáng, những cung cách hành động như vậy; do đó, tôi ủng hộ hành động của nhà báo và đánh giá cao khía cạnh lục lọi dò xét. nơi nào cũng xen vào của họ. Không nên có khoảng cách chênh lệch giữa thể thống bên ngoài và đời tư của một người lương thiện. Tôi nghĩ báo chí phải cho công chúng thấy rằng một số khía cạnh hấp dẫn khác hẳn. Chính trong chiều hướng đó mà tôi hơi khuynh về sự can thiệp vào đời tư của người ta, nhưng không phải vì vậy mà quên rằng chủ đích chung của chúng ta là phục vụ con người để kiện toàn xà hội. Đừng hành động sai lạc, do những động cơ xấu thúc đẩy. Tôi tin là, nếu người ta không phơi trần hết thảy những tệ nạn xã hội như nghiện thuốc, giết người, hãm hiếp và lạm dụng trẻ em, thì những kẻ vô tội sẽ cứ hàng ngày chịu khổ. Nếu báo chí giải thích rõ ràng, công chúng rốt cục phải chú ý và tìm ra cách giảm bớt khổ đau.
Tôi cũng nghĩ rằng, khi nói đến luân thường đạo lý thường thì người ta gắn liền với nó với những khái niệm tôn giáo. Theo tôi, tách rời hai khái niệm luân lý và tôn giáo là điều quan trọng. Tôn giáo, lẽ di nhiên giúp chúng ta hiểu được đạo đức theo chiều sâu duy trì và phát triển nó, nhưng khi nói đến lòng vị tha hay tình thương yêu đồng loại chẳng hạn, phải biết tha thứ đạo đức này tự nó mà có. Không phụ thuộc vào tôn giáo, vì nó bắt nguồn từ bản tính thâm sâu của con người, đó là lòng nhân và tình thương yêu.

5. Ngài có thể nói khái niệm nghiệp tập thể, nghiệp chung của một quốc gia? Nghiệp chung này mô tả cái gì ?
Nói về nghiệp chung của một quốc gia là một đều dễ hiểu. Tuy nhiên, mặc dù sự chín muồi nghiệp quả của những người trong cùng một nhóm được gánh chịu trong cùng một lúc, điều này không có nghĩa là những nghiệp này được tích lũy trong cùng một thời gian. Tôi không tin là những duyên của một nghiệp chung được tạo ra cùng một lúc, mà chúng được tạo ra trong từng cá thể vào những thời đềm khác nhau. Sức mạnh của những hành động này và nhiều yếu tố khác nữa có thể tạo nên một sự nghiệp chung mà một nhóm người hay cả một nước phải gánh chịu.

6. Những tội nhân chiến tranh trong phần gương những xứ Âu Châu, Đông âu, và những quốc gia khác tại Á Châu như Cam Bốt và Việt Nam đã không hề được xét xử, và có khi còn được ân xá ngay cả trước khi được xét xử. Ngài nghĩ thế nào về việc này?
Thật đáng buồn, trong nhiều nước vừa mới thoát khỏi chế độ đàn áp, người ta thường biểu lộ lòng căm hờn và ý muốn trả thù trong khi đáng lẽ phải biết tha thứ và chấp nhận. Đây không phải là lúc trả thù và thanh toán trong những nước đã được dân chủ này. Ngược lại, đây là lúc tái thiết quốc gia, xã hội. Tôi đã bày tỏ điều này khi được viếng thăm một số trong những nước đó.
Tôi rất quý trọng và ngưỡng mộ những nghĩa cử của các tổ chức như cơ quan ân xá Quốc tế, họ làm việc một cách chân thành, có hiệu năng và tích cực trong lĩnh vực vi phạm nhân quyền.

7. Ngài nói đến sự giải giới nội tại mà phải kèm theo giải giới ngoại tại. Xin Ngài nói rõ thêm giải giới nội tại là gì trước thù hận của kẻ địch, trước lòng căm hận của chính mình. Trong tác phẩm Les Voies du Coeur, Ngài cho thấy có thể thành lập trong tương lai mộ đạo quân quốc tế. Vì Ngài chủ trương bất bạo động, thì họ sẽ hoạt đóng cách nào đây? Họ sẽ được vũ trang không?
Ai cũng biết ràng khả năng chém giết vẫn tồn tại chừng nào người ta còn vung gươm múa kiếm trong những bang giao quốc tế, hay cả trong phạm vi mỗi quốc gia. Mặt khác, phải xét lại vấn đề mua bán vũ khí vì tình thế hiện nay vừa khủng khiếp vừa vô trách nhiệm. Chúng ta suy nghĩ rất nghiêm chỉnh đến vấn đề vũ trang mà, một khi đã phân tích cặn kẽ, cho thấu rõ cơ chế quân đội là yếu tố chính dẫn đến tình trạng suy thoái của tình trạng hiện nay, mà nạn khủng bố là do vũ khí mà có. Vì vậy nguy cơ chiến tranh vẫn còn tồn tại ngày nào mà những cơ chế quân đội vẫn còn, ở phe này cũng như phe kia. Thế nên, cần phải dẹp bỏ quân đội, từ từ thôi. Dĩ nhiên, bắt đầu là giải giới nguyên tử, tiếp theo loại bỏ khí giới hóa học và vũ khí vi trùng, cuối cùng dẹp luôn vũ khí thông thường. Trước hết cần có sự bảo đảm quốc tế cho công cuộc giải giới này, nó cũng kiểm soát việc mua bán vũ khí, mà một số người đại diện là kẻ bất lương. Để giám sát việc giải giới này, có thể đưa vào những lực lượng nho nhỏ giống như một loại cảnh sát quốc tế. Liên Hiệp Quốc đã tham gia rất nhiều trong hành động quân sự để giải phóng; chúng ta có thể một lực lượng đa phương hay quốc tế giám sát một nước đã hoàn toàn giải giới, ý chính tôi muốn đưa ra, là những lực lượng tập thể này sẽ hoạt động như những lực lượng bảo vệ trị an. Lúc ấy mọi người sẽ thành Bồ tátm, chẳng cần vũ trang gì nữa! Nhưng tôi chắc là sẽ khó thực hiện.
Một số người có lẽ không biết giải giới nội tại là gì? Tôi cho rằng căm hận là kẻ thù độc địa nhất. Đó là kẻ thù của sự thanh thản tâm hồn, tình hữu nghị và sự hòa hợp, ba yếu tố then chốt cho một sự phát triển tích cực để thực hiện một thế giới tốt đẹp hơn. Vậy phải tiết giảm hận thù và phát huy đức từ bi, lòng thương cảm. Đó chính là điều mà tôi gọi là giải giới nội tại.

8. Giận và ghét khác nhau thế nào?
Riêng tôi thường phân biệt hai loại tâm lý vẫn đục này như sau. Ghét gắn liền với sự oán hận người khác, không bao giờ có động lực là lòng xót thương. Vậy cần phải hủy diệt nó hoàn toàn. Giận bộc lộ một phản ứng cảm xúc tức thì, mà trong Mật tông, có thể sử dụng được để tu hành. Cũng có khi vì thương mà người ta nổi giận. Ví dụ như để thúc giục kẻ khác phải tiến hành một hành động khẩn trương.

9. Xin Ngài định nghĩa thế nào là một kẻ thù ?
Khi thấy mình giận ai đến tím mặt, thì biết ngay kẻ thù là gì. Chương bàn về lòng khoan dung và sự kiên nhẫn trong Bồ tát hạnh của Shantideva định nghĩa kẻ thù là người hăm dọa mạng sống ta hay bạn hữu ta, của cải ta hay của cải họ v.v… Bạn của kẻ thù được xem như kẻ thù. Trong pháp môn chuyển hóa tư tưởng (Tạng ngữ Iodjong) có mục quan sát tính bình đẳng giữa mình và người, dẫn đến ý niệm không còn thù hay bạn. Không phải phủ nhận sự hiện hữu của họ: kẻ thù và bạn vẫn còn đó; đúng hơn, sự tu tập này cho thấy không có lý do nào để giận những kẻ xem mình là thù, hay quyến luyến một số người vì họ là bạn hay bà con ta, nhưng từ một góc độ khác nhau, có thề xem kẻ ấy là bạn, vì đã cho ta cơ hội để tập tính nhẫn nhục, khoan dung. Nếu nhìn ở khía cạnh này thì anh ta không còn là kẻ thù nữa, mà thật hữu ích và có lợi.

10. Một người Tây Tạng giết chết một con trâu để nuôi sống gia đình có hành động tiêu cực không? Câu hỏi cũng đặt ra nhu vậy đối với những người cận vệ, vì để bảo vệ tính mạng cho Ngài, phải biết giết người?
Chúng ta phải biết hiểu những trường hợp này như thế nào? Dĩ nhiên đây là những hành động tiêu cực. Cường độ tạo nghiệp của mỗi hành động tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ý định thúc đẩy hành động, ngay chính hành động và suy nghĩ tiếp theo sau hành động.

11. Trong lúc theo giáo lý nhà Phật, làm sao sống trong nhũng biến cố tàn bạo như chiến tranh ?
Điều quan trọng hơn hết phải tránh chém giết: tự cho mình có quyền cướp mạng sống của ai là một điều dứt khoát không bao giờ chúng ta được nghĩ đến.

12. Không bám víu khác với thờ ơ lãnh đạm như thế nào?
Rất khác: lãnh đạm là hoàn toàn không quan tâm đến đối tượng đang đề cập, trong khi không bám víu hàm ý còn có một liên hệ.
Để sáng tỏ ý tôi nói, hãy xét sự bám víu là gì? Nó có hai loại: loại thứ nhất cần từ bỏ, đó là khi sự bát víu phát sinh do tâm trí bị khuấy động vì nỗi thèm muốn hay do bất kỳ động cơ tâm lý tiêu cực, loại thứ hai là tình cảm hướng đến những đối tượng đáng thương khuynh hướng này không xuất phát từ những xúc động tiêu cực thì phải được đào sâu và tăng trưởng.
Khi quán tưởng tính Không (vacuité) chúng ta được thúc đẩy phải nới rộng sự bám giữ sai lạc các hiện tượng và sự cố, tưởng rằng chúng có một sự hiện hữu chắc chắn, biệt lập. Buông thả sự bám giữ sai lầm đều thiết yếu, nhưng vẫn phải có ý thức phân biệt cái gì phải vun trồng cái gì nên từ bỏ, và cố gắng phát huy tiềm năng của những đức tính lành mạnh và tích cực đồng thời dẹp bỏ sức mạnh của những khuynh hướng tiêu cực và độc hại. Khả năng phân biệt của ta vẫn còn nguyên vẹn. Trong cùng chiều hướng suy nghĩ đó. Bồ tát phải hủy tận gốc sự kiêu ngạo, tự hào, Tính khiêm cung tự nhiên đặt vị ấy ở sau mọi người. Tuy nhiên, điều này không thể ảnh hưởng đến niềm tin vô song và lòng can đảm tuyệt vời của Bồ tát khi dấn thân giải thoát chúng sinh khỏi khổ ách. Gương từ bi rộng lớn không lẫn bám víu tiêu cực nào, chứng tỏ rằng trọng hạnh phúc người khác hơn hạnh phúc riêng
Chính nhờ trí tuệ và sự tu tâm luyện tính trong trong phương tiện khéo léo cũng như khả năng sáng tạo của tâm hồn điều cần thiết mà ta có thể thấy sự khác biệt rất vi tế giữa yếu tố nuôi dưỡng bản ngã, tức sự bám víu, và những đức tính tích cực lợi tha. Chỉ có sự kết hợp phương tiện và trí tuệ mới phân biệt đúng được. Tôi thường nói rằng nhắc đến cái "tôi" đương hàm một ý thức mạnh mẽ về tự ngã. Một trong những hình thức biểu lộ bản ngã là không cần để ý đến kẻ khác, không đếm xỉa đến hạnh phúc của họ, thậm chí có thể vì tư lợi mà khai thác bất kỳ điều gì làm cho mình sung sướng. Thái độ tâm lý là rất tiêu cực cần phải đánh đổ. Ngược lại một khía cạnh khác của cái "tôi" có thể biểu thị bằng lòng tự tin rộng lớn, khiến ta có thể nói: "Mình có thể hoàn tất điều này điều nọ. Mình có thể làm việc cho mọi người được sung sướng. Mình sẽ đạt đến toàn giác (eveil parfait) để làm lợi cho chúng sinh”. Cảm thức ấy thì đừng dẹp bỏ mà ngược lại, phát huy nó, tăng cường nó! Trên con đường tu tập, tâm trí ta bề ngoài vẫn thảnh thơi, thoải mái, nhưng tự thẳm sâu trong tâm hồn phải thật minh mẩn tỉnh giác, luôn sử dụng một cách sáng suốt sự phản tỉnh và chú tâm.

Nguyễn Thị Phương Thanh dịch (Lược theo Au de là des dogmes)
Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo – Số 48